Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo cáo ĐTM - Đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo cáo ĐTM - Đánh giá tác động môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

HÀO DƯƠNG BỊ PHẠT NẶNG VÌ VI PHẠM LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

UBND TP.HCM vừa có quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương.
  
Thời điểm năm 2009 đã phát hiện nước thải của Công ty Hào Dương (TP.HCM) từ bể chứa đến máng thoát xả thẳng ra sông chưa qua xử lý - Ảnh: Nguyễn Triều
Theo quyết định, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương  (lô A18, khu công nghiệp Hiệp Phước, huyện Nhà Bè) đã có những vi phạm trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải nguy hại, xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên…; đồng thời thu lợi bất hợp pháp từ các hoạt động gây ô nhiễm trên.
Với các hành vi như  trên, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương bị xử phạt tổng số tiền  6,39 tỷ đồng (làm tròn), trong đó số tiền thu lợi bất hợp pháp do những vi phạm về môi trường là 4,39 tỷ đồng.
Ngoài việc yêu cầu Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương tạm ngưng hoạt động để khắc phục hậu quả các công đoạn gây ô nhiễm môi trường, UBND TP yêu cầu công ty này phải nộp phạt vòng 10 ngày kể từ khi nhận được quyết định, nếu không sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Theo nguồn: tinnhanhmoitruong.vn

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI VÀ PHẾ LIỆU

Tại văn bản số 434/TB-VPCP, Văn phòng Chính phủ đã thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về dự thảo Nghị định về quản lý xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn và dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu.

Hệ thống xử lý kim loại ô nhiễm. (Nguồn: Danh Lam/TTXVN)

Thông báo nêu rõ, ngày 5/11, tại Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chủ trì cuộc họp về Nghị định về quản lý xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn và dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu. Sau khi nghe báo cáo của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và ý kiến của các cơ quan liên quan, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã kết luận:

Thời gian qua, công tác quản lý chất thải rắn đã được Chính phủ và các bộ, ngành quan tâm, chỉ đạo. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn đã được ban hành kịp thời với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn đã phát huy được hiệu quả và đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất thải rắn.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn bốn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung, phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long; quy hoạch quản lý chất thải ba lưu vực sông Đồng Nai, sông Cầu và sông Nhuệ-Đáy. 45/63 tỉnh, thành phố hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn. Công tác quản lý thu gom, vận chuyển, đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn đang dần được hoàn thiện.

Để triển khai công tác quản lý chất thải rắn có hiệu quả và đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các Nghị định hướng dẫn luật đã có hiệu lực, các bộ cần thực hiện tốt một số việc sau:

Trên cơ sở Dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu do Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo và dự thảo Nghị định về quản lý xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn do Bộ Xây dựng soạn thảo, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, thống nhất với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan, hợp nhất thành một nghị định, trên cơ sở bảo đảm ổn định, mô hình, cơ chế, chính sách quản lý chất thải rắn đang thực hiện.

Các bộ, ngành tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường và chủ trì thực hiện các cơ chế chính sách quản lý chất thải nguy hại. Bộ Xây dựng trực tiếp chủ trì các cơ chế chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải. Bộ Y tế chủ trì thực hiện các cơ chế chính sách quản lý chất thải y tế. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện các cơ chế chính sách quản lý chất thải phóng xạ.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải giao Bộ Tài nguyên và Môi trường tập trung nghiên cứu các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan để hoàn chỉnh dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu theo hướng giảm tối đa các thủ tục hành chính, bảo đảm tính hợp hiến, phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường; cụ thể hóa các nội dung quy định nhằm bảo đảm quy định rõ, đủ đối tượng, nội dung, cơ quan quản lý và các văn bản hướng dẫn thực hiện; rà soát, bổ sung các nguyên tắc cho việc sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành về xuất nhập khẩu phế liệu phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; trình lại dự thảo Nghị định trước ngày 30/11.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

QUY TRÌNH LẬP ĐỀ ÁN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Các doanh nghiệp sản xuất, thương mại dịch vụ, khu công nghiệp, khu dân cư, khu đô thị, nhà máy, bệnh viện, khách sạn, các nhà máy, nhà xưởng,… đã đi vào hoạt động mà không có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường.
2. Mô tả công việc:
- Khảo sát, thu thập số liệu về hiện trạng hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh;
- Khảo sát, thu thập số liệu về hiện trạng môi trường xung quanh khu vực dự án;
- Khảo sát điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH liên quan đến hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh;
- Xác định các nguồn gây ô nhiễm của dự án như: khí thải, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn; xác định các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của dự án;
- Thu mẫu nước thải, mẫu không khí tại nguồn thải và khí xung quanh khuôn viên dự án, sau đó phân tích tại phòng thí nghiệm;
- Đánh giá mức độ tác động của các nguồn ô nhiễm đến các yếu tố tài nguyên và môi trường;
- Liệt kê và đánh giá các giải pháp tổng thể, các hạng mục công trình bảo vệ môi trường được thực hiện;
- Xây dựng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và dự phòng sự cố môi trường cho các hạng mục còn tồn tại;
- Đề xuất phương án xử lý nước thải, khí thải, phương án thu gom và xử lý chất thải rắn từ hoạt động của dự án;
- Xây dựng chương trình giám sát môi trường;
- Soạn thảo công văn, hồ sơ đề nghị phê duyệt Đề án;
- Thành lập đoàn kiểm tra thực tế về việc bảo vệ môi trường tại công ty;
- Thẩm định và Quyết định phê duyệt.

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

QUY TRÌNH LẬP BÁO CÁO GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG

Có nhiều vấn đề mà các doanh nghiệp thường hay gặp phải trong các thủ tục nhất là liên quan đến môi trường, trong đó một bảng báo cáo giám sát  môi trường là thủ tục cần thiết.
Để lập một bảng báo cáo giám sát môi trường thì cần phải thực hiện các bước sau:
  • Thu thập những thông tin chung về thực trạng của Công ty;
  • Xác định các nguồn chất thải ô nhiễm, lấy mẫu phân tích, đo đạc các thông số đặc trưng của chất thải;
  • Tiến hành đo đạc, phân tích các thông số về chỉ tiêu môi trường của các chất thải theo các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Ghi nhận kết quả đo đạc, phân tích trong bảng báo cáo;
  • Đánh giá tác động của chất ô nhiễm lên môi trường xung quanh, qua đó cũng xem xét lại mức độ hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa đã và đang sử dụng bằng cách lấy mẫu phân tích, đo đạc. Đề ra các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm cũng như lên phương án xử lý, dự phòng sự cố;
  • Tiếp theo đó, cam kết thực hiện các biện pháp phòng ngừa, biện pháp khắc phục ô nhiễm, cam kết hoàn thiện những nội dung không đạt, đảm bảo đạt tiêu chuẩn hiện hành về môi trường;
  • Hoàn thành hồ sơ bao gồm: báo cáo giám sát môi trường theo mẫu hiện hành, công văn số 3105/TNMT-QLMT ngày 18/04/2008 của Sở TN&MT;
  • Cuối cùng, nộp bảng báo cáo cho cơ quan thẩm quyền để xét duyệt.

LẬP CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trước khi đi vào thành lập một dự án thì tất cả các công ty, doanh nghiệp tùy từng quy mô bắt buộc phải tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và lập cam kết bảo vệ môi trường (chi tiết quy định tại Nghị định 29/2011/ BTNMT và thông tư 26/2011/ BTNMT).
 Vậy để giúp các quý doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về vấn đề lập cam kết bảo vệ môi trường, công ty môi trường Minh Việt chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ nhất và chính xác nhất về cách lập cam kết bảo vệ môi trường.
 Xem thêm: Cam kết bảo vệ môi trường là gì? 
 -Theo quy định tại điều 12, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: 
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng không phải lập dự án đầu tư.
 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định.
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng phải lập dự án đầu tư. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phảilập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
 Phạt tiền từ 200.000.000-250.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
 1. Các bước thực hiện lập cam kết bảo vệ môi trường: 
Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực xung quanh dự án như : khảo sát thu thập số liệu về quy mô dự án, khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan.
 Xác định các nguồn gây ô nhiễm của dự án như: khí thải, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn….phát sinh trong quá trình hoạt động của dự án. 
Đánh giá mức độ tác động ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm đến các yếu tố tài nguyên và môi trường. 
Đề xuất phương án xử lý nước thải, khí thải, phương án thu gom và xử lý chất thải rắn từ hoạt động của dự án. Xây dựng chương trình quản lý và giám sát môi trường.
 Soạn thảo công văn, hồ sơ đề nghị phê duyệt Đề án. 
Thẩm định và Quyết định phê duyệt.
2. Các văn bản pháp luật có liên quan: 
Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005. 
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
 3. Hồ sơ đăng ký cam kết bảo vệ môi trường 
 3.1. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các đối tượng phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với hình thức trang bìa, trang phụ bìa; cấu trúc và yêu cầu về nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại các Phụ lục 5.1 và 5.2 Thông tư 26/2011 TT- BTNMT. 
Một (01) dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) có chữ ký (ghi rõ họ tên, chức danh) của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ quan chủ dự án. 
 3.2. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường quy định đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với yêu cầu về hình thức và nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.3 Thông tư này; Một (01) bản thuyết minh về phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được chứng thực bởi chữ ký của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 
 3.3. Đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011 TT – BTNMT, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2. Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường đã được đăng ký hoặc giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang vận hành. 
 3.4. Đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 45 Thông tư này, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh trước đó. 

Các quý công ty, doanh nghiệp nào chưa lập cam kết bảo vệ môi trường hay gặp những khó khăn trong quá trình lặp thì hãy liên hệ với công ty môi trường Minh Việt chúng tôi. 
Với kinh nghiệm hơn 10 năm hoạt động và tập hợp đội ngũ giảng viên đến từ tất cả các trường đại học lớn và nổi tiếng nhất Việt Nam, chúng tôi tự tin đảm bảo sẽ cung cấp cho quý khách dịch vụ lập cam kết bảo vệ môi trường uy tín nhất, nhanh gọn nhất và tiết kiệm chi phí nhất có thể.

THẨM ĐỊNH BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Sau khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đến cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc thẩm định quy định tại điểm a, điểm b khoản 7 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường và khoản 5 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP.

Sau đây công ty môi trường Minh Việt xin được giới thiệu về việc thẩm định báo cáo đánh giá tác đông môi trường.

Hồ sơ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Hồ sơ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm:
  • 01 (một) văn bản của chủ dự án đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mẫu tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này;
  • 07 (bảy) bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được đóng thành quyển theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này, có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa. Trường hợp số lượng thành viên hội đồng thẩm định nhiều hơn 07 (bảy) người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm số lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường theo yêu cầu của cơ quan tổ chức việc thẩm định;
  • 01 (một) bản báo cáo đầu tư hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật hoặc dự án đầu tư hoặc tài liệu tương đương của dự án có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa.

 Thời điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Thời điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án được quy định như sau:
  • Chủ dự án đầu tư khai thác khoáng sản trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản;
  • Chủ dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc có hạng mục xây dựng công trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi xin cấp giấy phép xây dựng, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản này;
  • Chủ các dự án đầu tư không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a và b khoản này trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi khởi công dự án.
Nếu có điều gì cần tư vấn thêm xin hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
CÔNG TY KHOA HỌC KỸ THUẬT & MÔI TRƯỜNG MINH VIỆT Địa chỉ: 347/23 Lê Văn Thọ, Phường 9, Q.Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh MST: 0304116535 E-mail: mivitechvn@gmail.com Điện thoại: 08.6273.1380 – Fax: 08.5427.3427 Website: http://moitruongmivitech.com

 

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

10 HẬU QUẢ ĐIỂN HÌNH CỦA SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

Biến đổi khí hậu là những thay đổi lớn làm ảnh hưởng đến môi trường sống, bầu khí quyển và khí hậu nói chung. Nó tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái trên trái đất và sống hàng ngày của con người. Biến đổi khí hậu đã đang và sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng và không thể không quan tâm tới.
1. Các hệ sinh thái bị phá hủy
Biến đổi khí hậu và lượng cacbon dioxite ngày càng tăng cao đang thử thách các hệ sinh thái của chúng ta. Các hậu quả như thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn.
San hô bị tẩy trắng do nước biển ấm lên chỉ là một trong rất nhiều tác hại của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái.
2. Mất đa dạng sinh học
Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa. Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Các nhà sinh vật học nhận thấy đã có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù hợp. Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực.
Con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng. Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta. Và khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi.
3. Chiến tranh và xung đột
Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm, đất đai dần biến mất nhưng dân số cứ tiếp tục tăng; đây là những yếu tố gây xung đột và chiến tranh giữa các nước và vùng lãnh thổ.
Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu đã dần làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur. Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao.
Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh.
Xung đột ở Darfur (Sudan) xảy ra một phần là do các căng thẳng của biến đổi khí hậu.
4. Các tác hại đến kinh tế
Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la; ngoài ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khổng lồ. Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế.
Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới.
5. Dịch bệnh
Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới.
Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới.
Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy.
6. Hạn hán
Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài. Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước. Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát.
Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%.
7. Bão lụt
Nhiệt độ nước ở các biển và đại dương ấm lên là nhân tố tiếp thêm sức mạnh cho các cơn bão. Những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn. Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi.
8. Những đợt nắng nóng gay gắt
Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay.
Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
9. Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ
Các núi băng và sông băng đang co lại. Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ. Lấy một ví dụ, các núi băng ở dãy Hy Mã Lạp Sơn cung cấp nước ngọt cho sông Hằng – nguồn nước uống và canh tác của khoảng 500 triệu người – đang co lại khoảng 37m mỗi năm.
10. Mực nước biển đang dâng lên
Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên. Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương.
Các bờ biển đang biến mất. Bãi biển ở Miami nằm trong số rất nhiều những khu vực khác trên thế giới đang bị đe dọa bởi nước biển dâng ngày càng cao.
Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc hay các quốc gia nằm ven biển. Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100. Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

Nhận xét: bản báo cáo ĐTM "Dự án Cảng Lạch Huyện ở giai đoạn khởi động

Báo cáo đánh giá tác động môi trường còn nhiều “lỗ hổng” chưa giải đáp được, đặc biệt về mô hình toán khuyêch tán bùn cát và các tác động đến môi trường của việc nạo vét và chuyển tải 40 triệu m3 bùn cát.

NHẬN XÉT 


BẢN BÁO CÁO ĐTM ‘DỰ ÁN CẢNG LẠCH HUYỆN (HẢI PHÒNG) (GIAI ĐOẠN KHỞI ĐỘNG)

 Tô Văn Trường 
Ban chủ nhiệm chương trình nghiên cứu khoa học KC08/11-15 Bộ Khoa học Công nghệ

Báo cáo đánh giá tác động môi trường vẫn còn khá nhiều “lỗ hổng” chưa giải đáp được, đặc biệt về mô hình toán khuyêch tán bùn cát và các tác động đến môi trường do việc nạo vét và chuyển đi 40 triệu m3 bùn cát. 
Bộ Giao thông vận tài thời gian vừa qua vận động Tổng hội xây dựng công nhận dự án cảng Lạch Huyện là công trình cấp bách nhưng Tổng hội không đồng ý . Qua 4 lần thảo luận, mới đi đến kết luận là công trình cảng Lạch Huyện chưa khởi công ngay. 
Bộ giao thông vận tải chấp nhận đề xuất của Tổng hội xây dựng là sẽ tính thêm phương án khai thác cảng từ ngoài vào trong theo đề xuất của Công ty TNHH Sơn Trường để so sánh với phương án của Bộ Giao thông nhưng đến nay vẫn chưa có tiến triển. 
Báo cáo ĐTM còn nhiều khiếm khuyết, chưa đủ cơ sở và chất lượng để Hội đồng thẩm định tiến hành tổ chức họp đánh giá . Trong khi Hội đồng ĐTM chưa họp vì còn nhiều vấn đề trong nội dung báo cáo còn bất cập cần bổ sung làm rõ nhưng trong thực tế Bộ Giao thông đã bán 2 gói thầu, trong đó có gói thầu làm kè, tôn tạo bãi còn nhiều tranh luận chưa rõ cả về kinh tế và môi trường. Phải chăng Hội đồng ĐTM chỉ làm cảnh cho việc đã rồi!? Phải chăng Bộ Giao thông vận tải cậy có quyền, tìm cách lách luật để cứ làm bất chấp công luận và ý kiến của các nhà khoa học? 

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 11 tháng 10 năm 2012

Làm ngược vì hiểu sai báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

Tính từ khi có Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 cho đến nay, các dự án đầu tư có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường ở Việt Nam đều được yêu cầu lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
Mặc dù vậy, dù có đánh giá thì vẫn là việc đánh giá, dù tác động thì vẫn tác động, môi trường suy thoái thì vẫn cứ thế mà tiếp tục. Qua trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, TS Nguyễn Khắc Kinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường (Bộ TN&MT), Phó Chủ tịch Hội ĐTM Việt Nam, cho rằng: Việt Nam hiện này do cách hiểu về ĐTM có nhiều sự nhầm lẫn, ngay từ tên gọi trở đi: “Trong tiếng Anh, họ gọi là “Environmental Impact Assessment”, dịch dúng là “Dự báo Tác động Môi trường” thì thật sự mới đúng bản chất của văn bản này và sát nghĩa với từ “assessment”. Điều này là một phần nhỏ trong cách hiểu nhiều sai lệch về ĐTM ở Việt Nam”. (Assessment, tiếng Anh có nghĩa là đánh giá hoặc ước tính, ước đoán, ví dụ: ước tính giá trị tài sản thanh lý, ước tính số tiền thuế phải nộp… - PV). 

Đã chọn được địa điểm xong thì còn lập ĐTM làm gì nữa?

Quy định hiện hành của Chính phủ tại Nghị định 21/2008/NĐ-CP và 29/2011/NĐ-CP, hầu hết các dự án chỉ phải trình thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM sau khi địa điểm của dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận! Điều này ngược lại với quy trình thẩm định báo cáo ĐTM thông thường. 
Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận là một ví dụ về quy trình ngược trong việc thực hiện ĐTM, thể hiện ngay trong nghị quyết phê duyệt dự án của Quốc hội. Ngày 25-11-2009, 77% các đại biểu Quốc hội bấm nút đồng ý với việc triển khai xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam và xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, thuộc Ninh Thuận; đồng thời cũng giao cho Chính phủ thực hiện chín đầu mục công việc, trong đó có việc lập và phê duyệt báo cáo ĐTM. Theo kế hoạch của Ban Quản lý điện hạt nhân Ninh Thuận, báo cáo ĐTM của Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2012. Nghĩa là đến ba năm sau khi được Quốc hội phê duyệt địa điểm, dự án mới có báo cáo ĐTM. 
TS Nguyễn Khắc Kinh cho biết: “Mục đích cơ bản, trước tiên và lớn nhất của ĐTM là để lựa chọn địa điểm dự án sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và sức chịu tải của các thành phần môi trường tự nhiên. Ví dụ, sức chịu tải của môi trường nước không còn tiếp nhận được nước thải nữa, thì anh có đổ vào cũng không được chứ chưa nói đến tiêu chuẩn môi trường của nước thải. 
Ở các nước, ĐTM là căn cứ để phê duyệt dự án, nếu không có thì không thể phê duyệt dự án ở địa điểm này, địa điểm kia được”. Đương nhiên, phục vụ cho việc lựa chọn địa điểm đầu tư dự án không phải là chức năng duy nhất của công tác ĐTM nhưng khi chức năng quan trọng và chủ yếu nhất của nó bị vô hiệu hóa thì ĐTM chỉ còn ý nghĩa “vuốt đuôi” cho xong thủ tục. 

Thủy điện Sông Tranh - báo cáo nào cũng như nhau? 

Tháng 12-2006, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lập báo cáo ĐTM do Phó Tổng Giám đốc Trần Văn Được ký, trong đó nêu rõ các luận cứ khoa học để đi đến kết luận: “Hồ thủy điện Sông Tranh 2 khi tích nước sẽ không có khả năng gây động đất kích thích”. 
Theo TS Nguyễn Khắc Kinh, đây là biểu hiện của một quan niệm sai lầm về ĐTM ở Việt Nam. Vốn dĩ ĐTM chỉ có nhiệm vụ dự báo tác động của dự án đến các điều kiện tự nhiên, chứ không dự báo các rủi ro, sự cố do thiên nhiên và con người gây ra như bão, lũ, động đất, sóng thần.  TS Kinh tâm sự “Mọi người cứ nhầm lẫn, cho rằng ĐTM phải dự báo động đất, động đất kích thích. 
Đó là khoa học dự báo rủi ro, với các thông tin đầu vào và phương pháp nghiên cứu khác. ĐTM chỉ làm cái việc là dự báo xem nếu, xảy ra động đất ở khu vực dự án thì tác động của nó đến môi trường ra sao” Thực tế thấy rằng sự nhầm lẫn giữa ĐTM và đánh giá rủi ro ở Việt Nam, khi gán ghép việc dự báo các yếu tố rủi ro cho ĐTM. Tuy nhiên, điều đáng nói là công tác đánh giá rủi ro ở Việt Nam lại chưa được coi trọng. 
TS Nguyễn Khắc Kinh cho biết: “Ở các nước, khi triển khai các dự án, người ta đánh giá tất cả các loại rủi ro, bao gồm rủi ro thiên tai, rủi ro do nhân tạo, thậm chí cả rủi ro chính trị, kinh tế, tài chính,... Đối với một nhà máy thủy điện, quan trọng nhất là dự báo rủi ro nhưng họ không làm, lại đưa vào ĐTM”. Không có số liệu, chất lượng ĐTM bị thả nổi Có hai nguồn thông tin cơ bản để tiến hành công tác ĐTM: thông tin về đối tượng gây tác động (tức là bản thân dự án) và thông tin về đối tượng bị tác động (môi trường tự nhiên). Khi chủ đầu tư hoặc đơn vị tư vấn lập báo cáo ĐTM, họ sẽ cần thông tin về tình trạng môi trường ở thời điểm hiện tại và dự báo ở tương lai, đặc biệt là thông tin về sức chịu tải của các thành phần môi trường như nước, không khí, đất, sinh vật,... 
Tuy vậy, họ không có cách nào để có được các thông tin này một cách chính xác, đồng bộ và đầy đủ, do sự yếu kém cả về quy mô lẫn chất lượng của hệ thống quan trắc môi trường ở nước ta. TS Nguyễn Khắc Kinh nói: “Nếu không có số liệu theo dõi trên tổng thể, đo đạc trong một thời gian dài, có khi lên tới hàng chục năm, thì ông có giỏi đến mấy, ông có về tận hiện trường để đo được vài lần, vài tháng cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì cả. 
Có khi hôm nay đến đo thì ô nhiễm, mai thì không, nên nếu không có số liệu trong một thời gian dài thì không thể đánh giá được”. Hiện nay trách nhiệm thực hiện báo cáo ĐTM thuộc về chủ đầu tư. Bộ TN&MT cùng UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt. Tuy vậy, cả người lập báo cáo lẫn người thẩm định, phê duyệt đều không có đầy đủ số liệu trong tay - hậu quả của hệ thống quan trắc, đo đạc yếu kém. 

Người lập ĐTM phải là người có đạo đức 

Chất lượng ĐTM không cao lắm vì không có thông tin. Trình độ, lương tâm, kinh nghiệm, đạo đức của người lập ĐTM là một vấn đề cần bàn tới. Nhưng kể cả họ có đủ những phẩm chất ấy mà thiếu thông tin thì cũng chịu. 
Có thể các nước ngày xưa họ cũng như mình hiện nay nhưng họ coi trọng môi trường nên đầu tư bài bản và đúng mức từ lâu, nên hiện giờ họ có dữ liệu quốc gia về quan trắc rất đầy đủ. Nếu bây giờ chúng ta cứ tiếc 100.000 đồng để đo một cái mẫu ngày hôm nay thì ngày mai có bỏ ra 1 tỉ đồng cũng không có lại được cái mẫu đấy. Nhưng thông tin đó có khi 5-10 năm sau người ta mới cần.

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

Xử lý cơ sở không có báo cáo đánh giá tác động môi trường

Bài viết trình bày một trong những nội dung trong Nghị định sửa đổi vừa được ban hành để xử vi phạm đối với các cơ sở không có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM). 
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 35/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 39 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
Theo đó, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (cơ sở) đến ngày 5/6/2011 đã đi vào hoạt động nhưng không có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung, giấy đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cam kết bảo vệ môi trường thì, ngoài việc bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật, trước ngày 31/12/2014 phải thực hiện một trong hai biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm sau. 
Thứ nhất, các cá nhân, tổ chức chủ doanh nghiệp phải lập đề án bảo vệ môi trường chi tiết đối với các cơ sở có quy mô, tính chất tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định 29/2011/NĐ-CP gửi cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 18 Nghị định 29/2011/NĐ-CP để thẩm định, phê duyệt.
Thứ hai là lập đề án bảo vệ môi trường đơn giản đối với các cơ sở có quy mô, tính chất tương đương với đối tượng phải đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại Điều 29 Nghị định 29/2011/NĐ-CP gửi cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 32 Nghị định 29/2011/NĐ-CP để đăng ký.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 39 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP thì khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến ngày Nghị định 29/2011/NĐ-CP có hiệu lực (5/6/2011) nhưng không có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung, giấy đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, quyết định phê duyệt hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường, ngoài việc bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật, trong thời hạn không quá 2 năm, kể từ ngày 5/6/2011 phải thực hiện một trong hai biện pháp khắc phục hậu quả trên.
Như vậy, so với Nghị định số 29/2011/NĐ-CP thì Nghị định 35/2014/NĐ-CP mới ban hành quy định kéo dài thời gian cho các cơ sở thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên. Nghị định 35/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2014.

Hướng dẫn các bước và thủ tục thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường


1. Trình tự thực hiện 
a) Chủ dự án nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở Tài nguyên và Môi trường; 
b) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tiếp nhận và chuyển hồ sơ cho Sở Tài nguyên và Môi trường; 
c) Sở Tài nguyên và Môi trường: 
Trường hợp báo cáo đánh giá tác động môi trường chưa đạt yêu cầu để thẩm định trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc có văn bản gửi Chủ dự án nêu rõ lý do để chủ dự án bổ sung hoàn chỉnh. Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ và đáp ứng yêu cầu, thành lập hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả của Hội đồng thẩm định, Sở Tài nguyên và Môi trường phát hành văn bản thông báo cho chủ dự án biết về kết quả đánh giá của hội đồng thẩm định và những yêu cầu liên quan đến việc hoàn chỉnh hồ sơ. 
d) Chủ dự án: Hoàn chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường, ký tên vào góc trái phía dưới của từng trang của một (1) bản báo cáo hoàn chỉnh, nhân bản và đóng thành quyển gáy cứng với số lượng tối thiểu là 03 bản, kèm theo 01 bản được ghi trên đĩa CD gửi Sở Tài nguyên và Môi trường kèm theo văn bản giải trình cụ thể về việc hoàn chỉnh này để được xem xét, phê duyệt. Hồ sơ được gửi tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. 
đ) Chủ dự án phải thực hiện lập lại hồ sơ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung theo quy định trong các trường hợp sau: 
- Hội đồng thẩm định không thông qua hồ sơ; 
- Kéo dài thời gian hoàn chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc hồ sơ quá 24 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu hoàn chỉnh báo cáo của Hội đồng thẩm định. 
Trường hợp không có sự thay đổi về công suất thiết kế, công nghệ và môi trường xung quanh thì không phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung nhưng phải có văn bản giải trình với cơ quan phê duyệt. 
- Trong quá trình hoàn chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường nếu có một trong những thay đổi cơ bản về công nghệ sản xuất, công suất hoặc địa điểm thực hiện dự án. 
e) Sở Tài nguyên và Môi trường: xem xét trình phê duyệt báo cáo. Hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường hoàn chỉnh sau khi phê duyệt chuyển Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để trả kết quả. 
g) Chủ dự án: Nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.

2. Thành phần và số lượng hồ sơ
a) 01 (một) văn bản của chủ dự án đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (theo mẫu tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá môi trường và cam kết bảo vệ môi trường).
 b) 12 (mười hai) bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được đóng thành quyển theo đúng cấu trúc và đáp ứng những yêu cầu về nội dung quy định tại (Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT), có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa của từng bản báo cáo (Trong đó, 07 bản cho Hội đồng thẩm định và 05 bản cho các đại biểu Quy định tại điều 20 của Thông tư số 13/2009/TT-BTNMT ngày 18 tháng 8 năm 2009 Quy định về tổ chức và hoạt dộng của Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác dộng môi trường chiến lược, Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường). Trường hợp số lượng thành viên hội đồng thẩm định cần nhiều hơn 07 (bảy) người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm số lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường theo yêu cầu của cơ quan tổ chức việc thẩm định.
c) 01 (một) bản dự thảo báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư của dự án.

3. Thời gian thẩm định tối đa là 30 (ba mươi) ngày.

4. Phí, lệ phí: 5.000.000 đồng/ 1 hồ sơ (Theo Quyết định số 10/2013/QĐ-UBND ngày 05 tháng 04 năm 2013)

Cập nhật nghị định mới về báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

Các yêu cầu về báo cáo đánh giá tác động môi trường từ năm 2005 đã được lồng ghép vào quy định luật, cụ thể là Luật Bảo vệ môi trường ban hành ngày 29/11/2005, tiếp sau đó là Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và sau là Nghị định 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP. 

Và nghị định gần đây nhất là Nghị định 29/2011/NĐ-CP về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường. 


Ngoài việc thay đổi số lượng dự án cần phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (từ 162 dự án theo Nghị định 21/2008/NĐ-CP giảm xuống còn 146 dự án), Nghị định 29/2011/NĐ-CP tiến hành sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về đối tượng và trách nhiệm của chủ dự án trong việc lập báo cáo đánh giá tác động; thời điểm, quy trình thẩm định và phê duyệt; nội dung báo cáo, nội dung cam kết bảo vệ môi trường; chế độ tài chính cho hoạt động đánh giá môi trường chiến lược. 
Theo đó, tất cả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch 5 năm trở lên sẽ phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) chi tiết hoặc rút gọn dưới hình thức lồng ghép trong báo cáo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hoặc báo cáo riêng. Đối với kế hoạch 5 năm được xây dựng phù hợp với quy hoạch của ngành, lĩnh vực đã được thẩm định báo cáo ĐMC thì không bắt buộc thực hiện ĐMC. 
Nghị định cũng đồng thời quy định cụ thể danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), trong đó có nhóm các dự án về xây dựng; sản xuất vật liệu xây dựng; về giao thông; năng lượng, phóng xạ; điện tử, viễn thông; một số dự án liên quan đến thủy lợi, sử dụng đất rừng, đất nông nghiệp; thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; dầu khí; xử lý nước thải… 

Trong quá trình lập báo cáo ĐTM, chủ dự án (trừ dự án đầu tư vào khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; dự án đầu tư nằm trên vùng biển chưa xác định được cụ thể trách nhiệm quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã; dự án đầu tư có yếu tố bí mật quốc gia) phải tổ chức tham vấn ý kiến của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thực hiện dự án và đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức chịu tác động trực tiếp của dự án. 
Với các dự án đầu tư có tính chất, quy mô, công suất không thuộc danh mục hoặc dưới mức quy định tại danh mục các dự án phải lập báo cáo ĐTM thì phải lập, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường. Ngoài ra, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư nhưng có phát sinh chất thải sản xuất cũng phải cam kết bảo vệ môi trường. Nội dung bản cam kết phải nêu rõ các loại chất thải phát sinh kèm biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải… 
Chủ dự án có trách nhiệm lập hoặc thuê tổ chức có đủ điều kiện lập báo cáo ĐTM cho dự án đầu tư của mình. Báo cáo ĐTM phải liệt kê, mô tả chi tiết các hoạt động, hạng mục công trình của dự án có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường kèm theo quy mô về không gian, thời gian, khối lượng thi công, công nghệ vận hành của từng hạng mục công trình và của cả dự án. Đồng thời, đánh giá chung về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và vùng kế cận; mức độ nhạy cảm của môi trường; đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến các điều kiện tự nhiên, thành phần môi trường tự nhiên, sức khỏe cộng đồng và các yếu tố kinh tế – xã hội có liên quan…
Trong trường hợp thay đổi địa điểm, quy mô, công suất, công nghệ… thực hiện dự án hoặc không triển khai thực hiện dự án trong thời gian 36 tháng kể từ thời điểm ban hành quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo ĐTM bắt buộc phải được làm lại. 
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 6 năm 2011 và thay thế các quy định tại các Điều 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

Công tác bảo vệ môi trường các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Nhằm bảo vệ môi trường ngành du lịch, nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong các hoạt động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của tỉnh.
Nhằm dễ dàng trong việc đánh giá, dự báo, phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và làm sạch môi trường tại các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh, Chi cục Bảo vệ môi trường và Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Châu Thành, Chợ Lách và thành phố Bến Tre; Ủy ban nhân dân xã Tân Thạch, An Khánh, Phú Túc, huyện Châu Thành; Ủy ban nhân dân xã Sơn Định, huyện Chợ Lách; Ủy ban nhân dân xã Phú Nhuận, thành phố Bến Tre tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch tại 10 cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. 
Tổng hợp trong 10 cơ sở gồm có: 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực du lịch nghĩ dưỡng (khách sạn, ăn uống,….); 03 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, karaoke, lữ hành nội địa; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực ăn uống, khách sạn, giải trí môtô nước; 02 cơ sở hoạt động lĩnh vực sản xuất kẹo dừa, giải khát; 01 cơ sở hoạt động lĩnh vực thực hiện hợp đồng và giới thiệu tour cho khách du lịch. 
Vì đặc thù của loại hình hoạt động kinh doanh này đón tiếp đón khách du lịch với mức độ thường xuyên, nên công tác xây dựng và giữ gìn cảnh quan môi trường của các cơ sở rất tốt, cơ sở thoáng mát, sạch đẹp. Tuy nhiên, vẫn còn một số cá nhân và tôt chức có ý thức bảo vệ môi trường và ý thức tuân thủ các quy định về hoạt động du lịch của các cơ sở chưa cao, và còn khá nhiều hạn chế. 
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thống kê được: Trong 10 cơ sở, có 01 cơ sở thuộc đối tượng lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và 09 cơ sở thuộc đối tượng lập bản cam kết bảo vệ môi trường. Có 06/10 cơ sở đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành hoặc thành phố Bến Tre cấp giấy xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường. Trong đó, có 01 cơ sở phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thay thế cho bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận, do quy hoạch diện tích đất của dự án hiện nay là 21 ha, so với diện tích đất của dự án lúc mới thành lập chỉ có 11.490 m2 mà thôi. Có 02/10 cơ sở thực hiện báo cáo chương trình giám sát môi trường định kỳ. 
Có 07/10 cơ sở trang bị dụng cụ phòng cháy chữa cháy. Có 08 cơ sở xây dựng hầm tự hoại để xử lý nước thải, 02 cơ sở thải trực tiếp nước thải ra môi trường.  
Đối với cơ sở phải thực hiện các quy định: có 01/01 cơ sở không đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại và xây dựng phương án ứng phó sự cố môi trường; có 02/02 cơ sở không đăng ký giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; 01/01 cơ sở không đăng ký giấy phép khai thác nước ngầm và nước mặt. 
Trong lĩnh vực hoạt động du lịch: Có 05/10 cơ sở chưa rõ ràng niêm yết công khai giá cả hàng hóa, dịch vụ du lịch; có 08/10 cơ sở treo bảng hiệu. Đối với các cơ sở phải thực hiện các quy định đặc thù với loại hình hoạt động thì có: 01/05 cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm; có 02/02 cơ sở sử dụng hướng dẫn viên du lịch không có thẻ hành nghề, chưa đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch và giấy phép kinh doanh rượu, thuốc lá. 
Với thực trạng công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch như trên, thời gian tới, Chi cục Bảo vệ môi trường sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thường xuyên kiểm tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch của các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Chi cục Bảo vệ môi trường kiến nghị: Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành phúc tra sau 45 ngày kể từ ngày lập biên bản và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành đối với các cơ sở không thực hiện các kiến nghị của Đoàn kiểm tra. Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố thường xuyên tiến hành kiểm tra, thanh tra các cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn.

Chủ Dự án phải làm gì sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được phê duyệt?

Qua các lần kiểm tra và thanh tra, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phát hiện nhiều Dự án không thực hiện đúng các qui định sau khi Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được phê duyệt thành công. Bởi theo qui định tại Điều 14, Nghị định 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành, sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM đến khi dự án đi vào vận hành chính thức thì các chủ dự án phải thực hiện các nội dung được nêu như sau: 

Đầu tiên, sau 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM thì các chủ dự án phải niêm yết công khai tại địa điểm thực hiện dự án bản tóm tắt báo cáo ĐTM được phê duyệt. Bản tóm tắt chỉ rõ chủng loại, khối lượng các loại chất thải; công nghệ, thiết bị xử lý chất thải; mức độ xử lý theo các thông số đặc trưng của chất thải so với tiêu chuẩn quy định; các biện pháp khác về bảo vệ môi trường. Và đồng thời, các chủ dự án phải có văn bản báo cáo tới Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết định phê duyệt ĐTM (phải kèm theo bản sao quyết định phê duyệt). 
Thứ hai, trên cơ sở sơ đồ công nghệ của các công trình xử lý các vấn đề môi trường đề ra trong báo cáo ĐTM đã được phê duyệt, chủ dự án phải tiến hành việc thiết kế chi tiết và xây lắp các công trình này theo đúng quy định hiện hành về đầu tư và xây dựng. Tiếp đó, các chủ dự án gửi văn bản báo cáo cơ quan nhà nước đã phê duyệt báo cáo ĐTM về kế hoạch xây lắp kèm theo hồ sơ thiết kế chi tiết của các công trình xử lý môi trường để theo dõi và kiểm tra. 
Thứ ba, trong quá trình thi công dự án, phải triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, biện pháp giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với môi trường do dự án gây ra và tiến hành quan trắc môi trường theo đúng yêu cầu đặt ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt cũng như những yêu cầu khác nêu trong quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Nếu dự án có những điều chỉnh, thay đổi về các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường đã được phê duyệt phải có báo cáo bằng văn bản gửi cơ quan đã phê duyệt và chỉ được phép thực hiện sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của cơ quan này. 
Cuối cùng, sau khi việc thi công các công trình xử lý nước thải, khí thải... đã hoàn thành và đã được nghiệm thu, phải tiến hành vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường để kiểm tra các thông số về kỹ thuật và môi trường theo thiết kế ban đầu đã đặt ra. Việc vận hành thử nghiệm ĐTM, phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án để bố trí kế hoạch giám sát, kiểm tra. Thứ năm, sau khi kết thúc việc vận hành thử nghiệm, chủ dự án phải có văn bản báo cáo và đề nghị xác nhận kết quả vận hành thử nghiệm các công trình xử lý môi trường gửi cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường để xác nhận. Báo cáo về việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM trước khi dự án đi vào vận hành chính thức.
Ảnh: Kiểm tra hệ thống xử lý nước thải của Dự án sản xuất thức ăn thủy sản – Khu CN An Hiệp
Ngoài ra, trong suốt quá trình triển khai các hoạt động thi công và vận hành thử nghiệm dự án nếu xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường thì phải dừng ngay và báo cáo kịp thời ĐTM) biết để kịp thời xử lý. Các chủ dự án phải có trách nhiệm hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường của dự án; phải cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu liên quan khi được yêu cầu. 
Nếu chủ dự án không thực hiện đầy đủ các nội dung trên, đến khi cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, phát hiện thì chủ dự án sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức tiền phạt đề nghị thấp nhất là 2.000.000 đồng, cao nhất là 170.000.000 đồng cho mỗi hành vi vi phạm nêu trên.

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

Cải thiện chất lượng đánh giá tác động môi trường

Theo một chuyên gia của một công ty tư vấn đầu tư của Mỹ tại Hà Nội, các quy định mới với nhà cung cấp dịch vụ đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có thể sẽ buộc các tổ chức thực hiện đánh giá tác động môi trường kém chất lượng buộc phải dừng hoạt động. Trong khi đó lại giúp Việt Nam thu hút thêm nhiều nhà cung cấp dịch vụ đánh giá tác động môi trường từ nước ngoài có nhiều kinh nghiệm hơn.
Theo chuyên gia phân tích thì “Do thiếu các quy chuẩn, điều kiện hoạt động cho các dịch vụ này nên nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa muốn đầu tư vào lĩnh vực này, dù Việt Nam đã mở cửa cho thị trường này”.
Một đại diện của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), thị trường ĐTM rộng lớn hơn sẽ giúp các tổ chức, doanh nghiệp giảm thiểu chi phí và tiếp cận được thêm nhiều nhà cung cấp dịch vụ này hơn và với chất lượng cao hơn.
“Để đảm bảo các báo cáo ĐTM có thể đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan chức năng, các tổ chức và doanh nghiệp thường phải làm các báo cáo này với chi phí khá cao. Mà trong khi đó, các báo cáo này lại thường có chất lượng khá thấp và không có giá trị thực sự, vì những người làm báo cáo lại không có nhiều năng lực chuyên môn”, vị đại diện này phát biểu.
Cũng bình luận về các quy định mới này, ông Ryuji Tomisaka, chuyên gia cao cấp về chính sách môi trường của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cho biết, ở Nhật Bản cũng như ở nhiều quốc gia phát triển khác, các doanh nghiệp thường thuê các tổ chức thực hiện đánh giá tác động môi trường cho họ, vì các tổ chức này có kiến thức chuyên sâu, có kỹ thuật và các trang, thiết bị hiện đại.
“Chúng tôi đánh giá cao Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) đã làm rõ các quy định và điều kiện cho các tổ chức thực hiện dịch vụ tư vấn lập báo báo đánh giá tác độngmôi trường. Bởi vì việc lập báo cáo này đòi hỏi các hoạt động nghiên cứu đa diện như: quan sát, phân tích, dự báo (gồm cả mô phỏng) cho nên kiến thức và năng lực chuyên môn rất đáng quan tâm, cần thiết để tạo ra một báo cáo đánh giá tác động môi trường hiệu quả và có tính khoa học”, ông Ryuji Tomisaka nói và cho biết thêm, các quy định trong Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) sẽ cải thiện khuôn khổ thể chế cho Việt Nam trong việc mở cửa hơn nữa dịch vụ môi trường. Điều này là một trong các yếu tố chính giúp Việt Nam phát triển  lâu dài và càng bền vững.
“Về phương diện này, chúng tôi hy vọng, kiến thức chuyên môn của Nhật Bản trong việc cân bằng bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế sẽ đóng góp vào phát triển bền vững hơn nữa của Việt Nam,” ông Ryuji Tomisake nói.
Tuy nhiên, vị đại diện của UNDP lại cho rằng, điều quan trọng nhất đối với một bản báo cáo đánh giá tác động môi trường không chỉ là chất lượng, mà còn là việc báo cáo này được kiểm tra, thẩm định và giám sát trước, trong và sau khi dự án đi vào hoạt động.
“Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) vẫn không quy định việc báo cáo này sẽ được thực hiện và giám sát như thế nào”, vị đại diện này nhận xét và đề nghị, nhằm thực hiện và giám sát hiệu quả đánh giá tác động môi trường, Dự thảo Luật cần đẩy mạnh vai trò giám sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố đối với việc tuân thủ đánh giá tác động môi trường của doanh nghiệp.
“Nếu như các cơ quan này không thể làm được việc này, thì họ phải thuê các tổ chức giám sát môi trường độc lập nhằm giám sát các dự án có đánh giá tác động môi trường. Tôi thấy rằng, Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) mới nên có quy định cho phép các cơ quan chức năng thuê các tổ chức này để giám sát các hoạt động bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Nhà nước cũng nên có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các cơ quan này trong việc thuê các tổ chức giám sát này”, vị đại diện này đề xuất thêm.
Cũng theo Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường chịu trách nhiệm trước chủ dự án và trước pháp luật về các thông tin, số liệu do mình tạo lập trong báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Tuy nhiên, Bộ Tư pháp lại cho rằng, quy định trên là “không phù hợp với bản chất của hoạt động tư vấn”, bởi vì về nguyên tắc, tổ chức tư vấn chỉ chịu trách nhiệm với chủ đầu tư là người có quan hệ hợp đồng tư vấn với mình về các cam kết theo hợp đồng. Báo cáo đánh giá tác động môi trường do tổ chức tư vấn lập chỉ có tính chất tham khảo. Do vậy, tổ chức tư vấn không chịu trách nhiệm chung trước pháp luật về các thông tin trong báo cáo đánh giá tác động của mình.