Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

HÀO DƯƠNG BỊ PHẠT NẶNG VÌ VI PHẠM LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

UBND TP.HCM vừa có quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương.
  
Thời điểm năm 2009 đã phát hiện nước thải của Công ty Hào Dương (TP.HCM) từ bể chứa đến máng thoát xả thẳng ra sông chưa qua xử lý - Ảnh: Nguyễn Triều
Theo quyết định, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương  (lô A18, khu công nghiệp Hiệp Phước, huyện Nhà Bè) đã có những vi phạm trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải nguy hại, xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên…; đồng thời thu lợi bất hợp pháp từ các hoạt động gây ô nhiễm trên.
Với các hành vi như  trên, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương bị xử phạt tổng số tiền  6,39 tỷ đồng (làm tròn), trong đó số tiền thu lợi bất hợp pháp do những vi phạm về môi trường là 4,39 tỷ đồng.
Ngoài việc yêu cầu Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương tạm ngưng hoạt động để khắc phục hậu quả các công đoạn gây ô nhiễm môi trường, UBND TP yêu cầu công ty này phải nộp phạt vòng 10 ngày kể từ khi nhận được quyết định, nếu không sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Theo nguồn: tinnhanhmoitruong.vn

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

LẬP TÒA ÁN MÔI TRƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CÔNG ĐỒNG

Hiện nay, các cơ chế khiếu kiện khiếu nại, xử lý khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực môi trường chưa bảo vệ được quyền lợi của người dân. Ngoài ra, việc xử lý các vi phạm về môi trường cũng còn nhiều bất cập cả về xử phạt hành chính và xử lý hình sự, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành.
Tình trạng khiếu nại về môi trường đang có xu hướng gia tăng. (Ảnh: TTXVN)

Đây là một trong thông tin chính vừa được ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên đưa ra tại hội thảo “Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng nhìn từ khía cạnh cải cách tư pháp” tổ chức trong ngày 27/11, tại Hà Nội.

Theo đánh giá của ông Trịnh Lê Nguyên, sau gần 3 thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, hệ quả của sự đánh đổi không cân xứng giữa phát triển và bảo vệ môi trường đang dần bộc lộ với hàng loạt vụ việc xâm phạm môi trường, gây xung đột quyền lợi cũng như gia tăng số lượng lớn “làng ung thư.”

Thống kê của Bệnh viện K cho thấy, trong 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hiện và khoảng 70.000 người chết vì căn bệnh này, tăng gấp nhiều lần so với thời gian trước. Trong đó, cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực bị ô nhiễm là đối tượng gánh chịu nặng nề nhất đối với những thiệt hại do ô nhiễm môi trường.

Đại diện Trung tâm Con người và Thiên nhiên cũng cho biết, mặc dù ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong, thế nhưng hiện nay cơ chế khiếu kiện trong lĩnh vực môi trường còn chưa rõ ràng, dẫn đến thiếu khả thi trong thực tế. Thậm chí, nhiều đơn thư không được giải quyết và không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ các cơ quan chức năng.

Theo báo cáo Chỉ số Công lý do UNDP thực hiện năm 2012, gần 31% người được phỏng vấn cho biết họ đang sống trong môi trường có ô nhiễm. Tuy nhiên, chỉ có 12% trong số đó có khiếu nại hoặc khiếu kiện tới chính quyền để yêu cầu khắc phục tình trạng ô nhiễm và bồi thường thiệt hại.

Cũng vì thế, những vụ việc như người dân lấp cống xả thải Khu công nghiệp Thuy Vân (năm 2012); vụ nhà máy sản xuất tấm lợp Fibro xi-măng ở Phả Lại, tỉnh Hải Dương (2013); hay vụ Nicotex Thanh Thái ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (tháng 8/2013) đã ngày càng trở nên phổ biến hơn trong thời gian gần đây.

Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Hoàng Văn Vy, Phó Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường thừa nhận tình hình khiến nại, tố cáo, tranh chấp môi trường đang ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó, 84% đơn thư là tố cáo, tranh chấp môi trường; 15% đơn thư khiếu nại và 1% kiến nghị.

“Qua rà soát cho thấy, vi phạm về môi trường đang ‘nóng’ lên. Và dù nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng có đơn thư gửi tới cơ quan chức năng đã được giải quyết, nhưng việc khởi kiện ra tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường là rất khó khăn, do thiếu căn cứ pháp lý,” ông Vy chia sẻ thêm.

Trước thực tế nêu trên, ông Vy kiến nghị, cơ quan qản lý nhà nước cần phải xây dựng hành lang pháp lý để giải quyết các tranh chấp về môi trường. Ngoài ra, để việc giải quyết được bồi thường thiệt hại cần có sự tham gia của các nhà khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể xã hội, nghề nghiệp.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Nguyễn Văn Tùng (Tòa án Nhân dân Tối cao) cho rằng để giải quyết nghiêm túc các vụ việc khiến nại, tố cáo, tranh chấp môi trường tại các khu vực ô nhiễm, việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải thành lập Tòa án môi trường.

Theo ông Tùng, việc thành lập Tòa án môi trường sẽ góp phần khắc phục những trở ngại trước mắt của công tác bảo vệ môi trường, trừng phạt các hành vi ô nhiễm môi trường đồng thời có thể giải quyết vấn đề vướng mắc của các vụ khiếu kiện về ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

SỔ CHỦ NGUỒN THẢI CHẤT THẢI NGUY HẠI

Sau khi đi vào hoạt động chính thức ngoài việc lập báo cáo giám sát môi trường định kỳ, lập đề án bảo vệ môi trường…thì các công ty, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải nguy hại đều bắt buộc phải đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo quy định về quản lý chất thải nguy hại.

Đối với các đối tượng phải đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại mà không tiến hành đăng ký thì sẽ bị xử phạt hành chính từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng (Điều 21- NĐ179/ 2013/ NĐ-CP/ BTNMT).
Tuy nhiên đây vẫn là một vấn đề khó khăn của các tổ chức, cá nhân chưa thực hiện. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu đó, Công ty Môi trường Minh Việt sẽ cung cấp cho quý khách những thông tin cũng như dịch vụ đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại một cách đầy đủ nhất, chính xác nhất và uy tín nhất.
    1. Đối tượng đăng ký sổ chủ nguồn chất thải nguy hại.
  • Các đơn vị sản xuất, kinh doanh có những hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến chất thải nguy hại trên lãnh thổ của Việt Nam.
  • Các dự án đã và đang chuẩn bị thực hiện nhưng chưa đăng ký sổ chủ nguồn chất thải nguy hại.
    2. Quy trình lập hồ sơ đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại.       
  • Khảo sát tổng quát tình hình của đơn vị sản xuất: hoạt động, quy mô, môi trường xung quanh.
  • Xác định thành phần, khối lượng nguyên liệu sản xuất
  • Xác định nguồn và khối lượng chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động
  • Đánh giá sự tác động của chất thải lên môi trường
  • Các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu chất thải phát sinh.
  • Phân loại các loại chất thải nguy hại, xác định mã từng loại theo danh mục
  • Xây dựng các phương pháp xử lý và khắc phục sự cố khẩn cấp do chất thải nguy hại gây ra
  • Lập hồ sơ
  • Trình duyệt cho Sở Tài nguyên môi trường
     3. Hồ sơ đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại.
Chủ nguồn thải chất thải nguy hại cần phải nộp 3 bộ hồ sơ đăng ký cho Sở Tài nguyên môi trường, tất cả phải có dấu xác nhận của chủ nguồn thải chất thải nguy hại. gồm:
  • Đơn đăng ký sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo mẫu ở Phụ lục 1.
  • Bản sao Quyết định thành lập cơ sở hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
  • Bản sao Quyết định phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung hoặc giấy xác nhận Bản cam kết bảo vệ môi trường.
Công ty Môi trường Minh Việt của chúng tôi có kinh nghiệm hơn 10 năm hoạt động, cùng với các mối quan hệ rộng rãi với các sở phòng tài nguyên ở các huyện, tỉnh thành. Chúng tôi đảm bảo cung cấp cho quý khách dịch vụ đăng ký sổ chủ nguy hại nhanh gọn nhất, uy tín nhất và đảm bảo giá cả hợp lý nhất.
Mọi thắc mắc cần hỗ trợ xin hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
CÔNG TY KHOA HỌC KỸ THUẬT & MÔI TRƯỜNG MINH VIỆT
Địa chỉ: 347/23 Lê Văn Thọ, Phường 9, Q.Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh
MST: 0304116535 E-mail: mivitechvn@gmail.com
Điện thoại: 08.6273.1380 – Fax: 08.5427.3427

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

LẬP CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trước khi đi vào thành lập một dự án thì tất cả các công ty, doanh nghiệp tùy từng quy mô bắt buộc phải tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và lập cam kết bảo vệ môi trường (chi tiết quy định tại Nghị định 29/2011/ BTNMT và thông tư 26/2011/ BTNMT).
 Vậy để giúp các quý doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về vấn đề lập cam kết bảo vệ môi trường, công ty môi trường Minh Việt chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ nhất và chính xác nhất về cách lập cam kết bảo vệ môi trường.
 Xem thêm: Cam kết bảo vệ môi trường là gì? 
 -Theo quy định tại điều 12, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: 
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng không phải lập dự án đầu tư.
 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định.
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng phải lập dự án đầu tư. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phảilập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
 Phạt tiền từ 200.000.000-250.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
 1. Các bước thực hiện lập cam kết bảo vệ môi trường: 
Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực xung quanh dự án như : khảo sát thu thập số liệu về quy mô dự án, khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan.
 Xác định các nguồn gây ô nhiễm của dự án như: khí thải, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn….phát sinh trong quá trình hoạt động của dự án. 
Đánh giá mức độ tác động ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm đến các yếu tố tài nguyên và môi trường. 
Đề xuất phương án xử lý nước thải, khí thải, phương án thu gom và xử lý chất thải rắn từ hoạt động của dự án. Xây dựng chương trình quản lý và giám sát môi trường.
 Soạn thảo công văn, hồ sơ đề nghị phê duyệt Đề án. 
Thẩm định và Quyết định phê duyệt.
2. Các văn bản pháp luật có liên quan: 
Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005. 
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
 3. Hồ sơ đăng ký cam kết bảo vệ môi trường 
 3.1. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các đối tượng phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với hình thức trang bìa, trang phụ bìa; cấu trúc và yêu cầu về nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại các Phụ lục 5.1 và 5.2 Thông tư 26/2011 TT- BTNMT. 
Một (01) dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) có chữ ký (ghi rõ họ tên, chức danh) của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ quan chủ dự án. 
 3.2. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường quy định đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với yêu cầu về hình thức và nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.3 Thông tư này; Một (01) bản thuyết minh về phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được chứng thực bởi chữ ký của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 
 3.3. Đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011 TT – BTNMT, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2. Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường đã được đăng ký hoặc giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang vận hành. 
 3.4. Đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 45 Thông tư này, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh trước đó. 

Các quý công ty, doanh nghiệp nào chưa lập cam kết bảo vệ môi trường hay gặp những khó khăn trong quá trình lặp thì hãy liên hệ với công ty môi trường Minh Việt chúng tôi. 
Với kinh nghiệm hơn 10 năm hoạt động và tập hợp đội ngũ giảng viên đến từ tất cả các trường đại học lớn và nổi tiếng nhất Việt Nam, chúng tôi tự tin đảm bảo sẽ cung cấp cho quý khách dịch vụ lập cam kết bảo vệ môi trường uy tín nhất, nhanh gọn nhất và tiết kiệm chi phí nhất có thể.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

LÀNG CHÀY MIỀN TRUNG THIẾU NƯỚC TRẦM TRỌNG

Theo báo cáo giám sát môi trường định kỳ hơn 200 hộ gia đình đang tiếp tục đấu tranh với tình trạng thiếu nước trong một làng chài phường Ghềnh Ráng ở vùng ven biển miền trung tỉnh Bình Định.

bao cao moi truong
Cung cấp nước cho làng chày, hộ gia đình

Thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường ĐTM, báo cáo giám sát môi trường định kỳ, hướng dẫn làm báo cáo giám sát môi trường định kỳ
Sự thiếu hụt đã mở rộng vào tháng thứ hai báo cáo giám sát môi trường định kỳ và bắt đầu khi ba giếng địa phương chạy ra khỏi nước, cắt hộ gia đình ở thành phố Quy Nhơn. 
Sự thiếu hụt đã mở rộng vào tháng thứ hai và bắt đầu khi ba giếng địa phương chạy ra khỏi nước, cắt hộ gia đình ở thành phố Quy Nhơn.
Người dân địa phương Lê Diệu Ngọc cho biết gia đình cô đã từ viện để mua nước từ thành phố đến hoạt động hàng ngày, như nấu ăn và uống.
"Tại thời điểm này, xe tăng của chúng tôi để lưu trữ nước mưa cũng là trống rỗng, vì thời tiết nóng kéo dài," cô nói.
bao-ve-moi-truong
Trên địa bàn tỉnh, chi phí khoảng 70 ,000-100, 000 (US $ 3-5) cho mỗi 1.000 lít nước sạch. Các thêm chi phí đã là một gánh nặng đối với một số hộ gia đình, báo cáo giám sát môi trường người vẫn còn một số những người nghèo nhất trong thành phố.
Một cư dân địa phương, ông Võ Văn Chung, cho biết Ủy ban nhân dân của phường đã đề nghị cung cấp 1 triệu đồng (47 USD) cho mỗi hộ gia đình đào giếng.
"Nhưng chúng tôi nói không," ông nói.
Hướng dẫn làm hồ sơ xử lý nước thải sản xuất, xử lý khí thải, thiết kế hệ thống xử lý nước thải, xử lý khí thải
Chi phí đào giếng được ước tính là khoảng 10 triệu đồng ($ 470) và không ai chắc chắn rằng nước sẽ được tìm thấy, ông nói.
Nguyễn Xuân Thành, Bí thư phường cho biết, làng chài được đặt tại một vùng xa xôi của thành phố và được bao quanh bởi các dãy núi và biển.
Mặc dù nó đã được khoảng 10km từ trung tâm huyện của thành phố, khu vực này đã được liệt kê là vùng nghèo nhất của thành phố, ông nói.
Kết quả là, các hộ gia đình báo cáo giám sát định kỳ sẽ phải sử dụng nước giếng để sinh hoạt hàng ngày, ông nói.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân địa phương Huỳnh Văn Trung cho biết, khu vực này đã phải chịu đựng nhiều nhất từ ​​tình trạng thiếu nước trong những năm gần đây.
Trong ngắn hạn, ủy ban sẽ bắt đầu gửi xe bồn để bán nước sạch cho người dân địa phương trong vài ngày tới, ông nói.
Trong dài hạn, ủy ban đã có kế hoạch để xây dựng một bể chứa lớn trên một ngọn núi địa phương, nơi các nhà khoa học đã xác định được một nguồn nước ổn định, cung cấp nước cho các hộ gia đình, ông nói thêm.
Nó đã được tính toán để có giá khoảng 7 tỷ đồng ($ 350,000) để xây dựng bể, ông nói thêm.
Ủy ban đã từ gửi một yêu cầu hỗ trợ tài chính từ thành phố dựa trên báo cáo môi trường
Tại thị xã Trà Xuân ở tỉnh ven biển miền Trung Quảng Ngãi, khoảng 1.200 hộ gia đình, những người đã được phụ thuộc vào giếng cho một thập kỷ, đã được bị thiếu nước, trong khi giếng địa phương đã chạy khô do điều kiện thời tiết nóng.
Thị trấn, trong đó có khoảng 1.800 hộ gia đình, xây dựng một hệ thống cung cấp nước sạch cho người dân địa phương vào năm 2005. Tuy nhiên, hệ thống này chỉ được cung cấp nước sạch cho 600 hộ gia đình.
Cư dân Trần Minh Tâm cho biết, trong mùa cam kết bảo vệ môi trường khô năm ngoái, gia đình ông đã dành 30 triệu đồng ($ 1,500) để đào giếng, nhưng nước có cũng chỉ trong mùa mưa, ông nói thêm.
Nguyễn Duy Tân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân của thị trấn, cho biết yêu cầu đã được đệ trình lên tỉnh để xây dựng một hệ thống bổ sung để cung cấp nước sạch cho các hộ gia đình, nhưng không có phản ứng đã được đưa ra.

PTT

BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Theo thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nước ta hiện nay có hơn ba trăm khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp nằm rải rác ở nhiều tỉnh thành, giải quyết việc làm cho hàng triệu người cũng như góp phần rất lớn vào tình hình kinh tế chung.
Mặc dù vậy, những hệ lụy mà những khu công nghiệp này gây ra về môi trường ô nhiễm, các chất thải rắn, kim loại, chất thải hóa chất và đặc biệt là nguồn nước cũng khá nghiêm trọng, cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết.
Những thực trạng nan giải
Theo tìm hiểu, ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí, từ chất thải rắn là chủ yếu. Ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ khu công nghiệp trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác. Cụ thể, theo nhiều người dân sinh sống tại khu vực kênh Tham Lương (Thành phố Hồ Chí Minh) thì nguồn nước ở đây từ khi xuất hiện khu công nghiệp Tân Bình đã trở lên ô nhiễm trầm trọng, không sử dụng được vào bất cứ mục đích nào. Đáng báo động hơn nữa, hiện nay kênh Tham Lương còn được liệt vào dòng kênh “chết” do không có thứ gì, kể cả cây cỏ có thể tồn tại được ở dòng kênh mà trước kia từng rất trong xanh này. Nguyên nhân của tình trạng này không quá khó để biết được chính là do khu công nghiệp Tân Bình với hàng loạt nhà máy, xí nghiệp cùng hàng ngàn công nhân sinh hoạt hàng ngày thải ra. Ngoài việc làm chết một dòng kênh, ô nhiễm nguồn nước ở đây còn ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người dân do nó bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng tới hệ thống nước ngầm, nước mặt, nhất là vào mùa mưa như hiện nay khiến người dân tỏ ra vô cùng búc xúc.
Lấy một ví dụ cụ thể, chỉ tính riêng tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các khu công nghiệp đã chiếm đến 49% lượng nước thải của các khu công nghiệp trong toàn quốc. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều khu công nghiệp đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp. Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý.
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường về mặt không khí ở các khu công nghiệp lại thường chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp cũ, do các khu công nghiệp này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường. Ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp chủ yếu là bụi, một số khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn. Về tình trạng này, nhiều người dân sinh sống ở những khu công nghiệp thường phản ánh họ thường ngửi thấy những mùi đặc trưng của những sản phẩm ở khu công nghiệp phát tán ra ngoài. Như khu công nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thì ngửi thấy mùi cá sơ chế chẳng hạn. Tuy nhiên, rất nhiều loại khí khác có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người mà thông thường lại không ngửi thấy bằng khứu giác đã được các chuyên gia môi trường cảnh báo đang diễn ra ở các khu công nghiệp hiện nay.
Bên cạnh đó, theo một số thống kê cho thấy, mỗi ngày các khu công nghiệp nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn, tương đương khoảng ba triệu tấn một năm. Một con số khổng lồ nếu tính trên tổng số diện tích và con người sinh sống quanh các khu công nghiệp. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là, lượng chất thải rắn đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Nghĩa là, càng về sau, những khu đất trống dùng để xử lý, chôn lấp chất thải khan hiếm đi, trong khi số lượng lại tăng lên mới là điều khiến người ta lo ngại. Cụ thể, nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh chất thải rắn khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204 tấn/năm (tăng 50%). Riêng những năm gần đây, con số này chắc chắn đã tăng lên gấp nhiều lần và đó chính là mối nguy hại lớn cho môi trường sống xung quanh.
Ngoài ra, có một sự lo ngại là khác nữa là trong khi các ngành nghề sản xuất ở các khu công nghiệp đang có những sự dịch chuyển nhất định để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống thì số lượng chất thải mà các khu công nghiệp này thải ra cũng thay đổi theo. Rất nhiều chất thải là hóa chất, chất độc hại đã được tạo ra khi ngành nghề sản xuất thay đổi trong khi quy trình xử lý chất thải vẫn giữ nguyên như cũ. Điều này đồng nghĩa với việc những hóa chất mới này hầu như không được xử lý hoặc sau khi xử lý, chúng vẫn giữ nguyên yếu tố độc hại và việc thải ra môi trường là vô cùng nguy hiểm. Có lẽ, đây chính là nguyên nhân mà khu công nghiệp nào khi kiểm tra cũng có những dây truyền xử lý chất thải nhưng tại các khu vực xung quanh khu công nghiệp, bằng mắt thường cũng có thể thấy tình trạng ô nhiễm đã tăng đột biến, làm biến đổi hoàn toàn môi trường ở khu vực đó. Thiết nghĩ, tình trạng những khu xử lý chất thải bị “chết” hay không theo kịp cơ cấu hàng sản xuất cần phải được chấm dứt ngay.
Từ những phản ánh trên, không khó để thấy được những hệ lụy, hậu quả nghiêm trọng mà người dân sinh sống ở khu vực có khu công nghiệp phải gánh chịu. Đó chính là nguy cơ về việc gia tăng những loại bệnh mãn tính khi sinh sống gần các khu công nghiệp cũng được nhiều người dân phản ánh. Những loại bệnh tật này, thật nguy hiểm là nó lại không diễn ra trong thời khắc mà tích tụ theo ngày tháng, làm người dân cảm thấy vô cùng bất an. Hơn nữa, nhiều khu công nghiệp lớn lại không nằm biệt lập mà nằm giữa…khu dân cư khiến dịch bệnh càng có nguy cơ bùng phát, tác động nghiêm trọng hơn, lên trên một số lượng rất lớn cá thể con người.
Các giải pháp cấp bách
Ðể từng bước khắc phục tình trạng nói trên, theo chúng tôi thời gian tới các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra pháp luật về công tác bảo vệ môi trường, xử lý các nguồn chất thải tại các khu công nghiệp cũng như cụm khu công nghiệp. Hơn nữa, việc xử lý nghiêm các Doanh nghiệp vi phạm, cũng như kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc cấp hoạt động theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động đánh giá môi trường chiến lược, tác động môi trường đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển, nhất là ở khâu thẩm định, kiểm tra sau thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm các dự án trước khi đi vào hoạt động được xác nhận hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường, đồng thời chỉ cho phép xây dựng các nhà máy, dự án trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp sau khi đã hoàn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình bảo vệ môi trường là những việc làm hết sức cần thiết.
Ngoài ra, việc quy hoạch, dịch chuyển các khu công nghiệp, vùng công nghiệp tới những khu đất biệt lập, nằm xa khu dân cư, vùng ngoại thành xa xôi chính là yếu tố cần thiết để bảo vệ và có biện pháp cách ly, xử lý an toàn môi trường khi cần thiết. Biện pháp này còn khiến cho môi trường quanh khu công nghiệp, môi trường sống của người dân trong tương lai được an toàn, bền vững hơn. Ngoài ra, việc thay đổi liên tục những quy trình xử lý chất thải môi trường ở những khu công nghiệp cũng là việc làm hết sức cần thiết. Tất cả phải ưu tiên những dây truyền sản xuất thân thiện, xanh sạch với môi trường sống để đảm bảo rằng môi trường tại các khu công nghiệp không làm ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sống xung quanh của các khu dân cư khác.
TD

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

ĐỪNG BỨC TỬ ĐẠI DƯƠNG

Rác thải chất dẻo trên đại dương đang gây tổn thất cho nền kinh tế thế giới ít nhất 13 tỷ USD mỗi năm, đe dọa đời sống sinh vật biển, ngành du lịch và nghề cá.

                  
Đây là cảnh báo của Liên hợp quốc tại hội thảo môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đang tổ chức tại Kenya.

Người đứng đầu UNEP Achim Steiner cho biết chất dẻo không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, tuy nhiên hoạt động sử dụng vật liệu này của con người đang gây ra những tác động nghiêm trọng lên môi trường sinh thái.

Báo cáo của UNEP cho biết rác thải chất dẻo (gồm chai nhựa, túi nilon, hộp đựng đồ ăn...) là nguyên nhân gây tử vong cho nhiều loài sinh vật biển khi bị nuốt phải như rùa, cá heo và cá voi hoặc tác động tiêu cực tới môi trường sống như các rặng san hô.

Ngoài ra, ô nhiễm hóa chất do rác thải chất dẻo gây ra còn gây tổn thất cho các ngành ngư nghiệp và du lịch của nhiều quốc gia.

Theo UNEP, đã có nhiều báo cáo về việc sinh vật biển nuốt vào bụng các chất dẻo độc hại thường tồn tại dưới dạng các mảnh vỡ nhỏ có đường kính chưa tới 5mm. Nhờ các dòng hải lưu, các mảnh vỡ này có thể di chuyển trên khắp đại dương, trở thành mồi cho các loài chim biển, cá, giun và động vật phù du, sau đó chuyển hóa thành hóa chất độc hại trong thức ăn của con người.

Một trong những mối nguy hiểm nổi lên mới đây là các "hạt chất dẻo siêu nhỏ" chứa trong kem đánh răng, chất gel và các sản phẩm làm sạch da mặt. Các hạt này không thể bị loại bỏ qua quá trình xử lý nước thải và do đó được đổ thẳng ra sông, hồ và đại dương.

Báo cáo trên đã chỉ ra thực trạng cấp thiết cho các công ty xem xét lại hoạt động sử dụng chất dẻo trong sản xuất và kinh doanh, tương tự như với khí thải carbon, nước và khai thác rừng. Các chuyên gia cũng nhận định việc tái chế có thể giúp doanh nghi
ệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí.
                                                                                                                                                        MXD

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ QUỶ PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về việc thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai.

Dọn dẹp bùn rác sau khi nước lũ rút. (Ảnh: Hoàng Nam/TTXVN)


Nghị định quy định, các tổ chức kinh tế hạch toán độc lập mức đóng góp bắt buộc 1 năm là hai phần vạn trên tổng giá trị tài sản hiện có tại Việt Nam theo báo cáo tài chính hàng năm nhưng tối thiểu 500.000 đồng, tối đa 100 triệu đồng và được hạch toán vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang hưởng lương, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương cơ bản sau khi trừ các khoản thuế, bảo hiểm phải nộp. Người lao động trong các doanh nghiệp đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương tối thiểu vùng. Người lao động khác đóng 15.000 đồng/người/năm. Chính phủ khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp tự nguyện cho Quỹ.

Nghị định quy định rõ 9 đối tượng được miễn đóng góp như thương binh, bệnh binh và những người được hưởng chính sách như thương binh; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sỹ; Quân nhân làm nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong Công an Nhân dân đang hưởng phụ cấp sinh hoạt phí; sinh viên, học sinh đang theo học tập trung, dài hạn tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học, Dạy nghề; người khuyết tật hoặc bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; người mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên.

Người đang trong giai đoạn thất nghiệp hoặc không có việc làm từ 6 tháng trong 1 năm trở lên; thành viên hộ gia đình thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo; thành viên thuộc hộ gia đình ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; thành viên thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, cháy nổ, tai nạn; hợp tác xã không có nguồn thu; tổ chức kinh tế hạch toán độc lập trong năm bị thiệt hại do thiên tai gây ra về tài sản, nhà xưởng, thiết bị, phải tu sửa, mua sắm với giá trị lớn hơn hai phần vạn tổng giá trị tài sản của tổ chức hoặc phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 5 ngày trở lên, cũng nằm trong những đối tượng được miễn đóng Quỹ phòng, chống thiên tai.

Trường hợp tổ chức kinh tế hạch toán độc lập được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được xem xét giảm, tạm hoãn đóng góp Quỹ.

Nghị định nêu rõ, Quỹ phòng, chống thiên tai được thành lập ở cấp tỉnh, do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quản lý. Quỹ sẽ chi hỗ trợ các hoạt động phòng, chống thiên tai như cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, cụ thể là cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu cầu cấp thiết khác cho đối tượng bị thiệt hại do thiên tai; hỗ trợ tu sửa nhà ở, cơ sở y tế, trường học, xử lý vệ sinh môi trường vùng thiên tai...

Quỹ được chi hỗ trợ các hoạt động ứng phó thiên tai như sơ tán dân khỏi nơi nguy hiểm; chăm sóc y tế; thực phẩm, nước uống cho người dân nơi sơ tán đến...

Theo nguồn: Moitruong.com.vn

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm chất lượng nhất

Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm chất lượng nhất - Công ty môi trường Minh Việt chuyên tư vấn thiết kế xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Công ty có đội ngũ kỹ thuật chuyên sâu về môi trường, thiết kế các hệ thống hiện đại, giảm chi phí đầu tư , áp dụng công nghệ xử lý nước thải hiện đại, hoàn thành theo đúng thời gian đề ra. Với tiêu chí“Uy tín, chất lượng để giữ vững niềm tin với khách hàng”.

Nghành dệt là nghành công nghiệp có dây chuyền công nghệ phức tạp, áp dụng nhiều loại hình công nghệ khác nhau. Đồng thời trong quá trình sản xuất sử dụng các nguồn nguyên liệu, hóa chất khác nhau và cũng sản xuất ra nhiều mặt hàng có mẫu mã, màu sắc, chủng loại khác nhau.
Nguyên liệu chủ yếu là xơ bông, xơ nhân tạo để sản xuất các loại vải cotton và vải pha. Ngoài ra còn sử dụng các nguyên liệu như lông thú, đay gai, tơ tằm để sản xuất các mặt hàng tương ứng.
Thông thường công nghệ dệt nhuộm gồm 3 quá trình cơ bản: kéo sợi, dệt vải và xử lý (nấu tẩy), nhuộm và hoàn thiện vải. Trong đó được chia thành các công đoạn sau:
  • Làm sạch nguyên liệu.
  • Chải.
  • Kéo sợi, đánh ống, mắc sợi.
  • Hồ sơi dọc.
  • Dệt vải.
  • Giã hồ.
  • Nấu vải.
  • Làm bóng vải.
  • Tẩy tắng.
  • Nhuộm vải và hoàn thiện.

PHẠM VI SỬ DỤNG CÁC LOẠI THUỐC NHUỘM TRONG CÔNG NGHIỆP DỆT

Sợi bôngSợi từ xenlulo thực vâtLenTơ lụaPolyamitPolyesterpolyacylonillril
Trực tiếpXx
Hoàn nguyênXx
Hoàn nguyên ( indigozol)X
Lưu huỳnhXx
Hoạt tínhXxx
NaphtholX
Phân tánxx
Pigmentx
Axitxxx
Phức kim loạixx
Cation ( kiềm)x
cromx
Độ gắn màu của các loại thuốc nhuộm vào sợi rất khác nhau. Tỷ lệ màu gắn vào sợi nằm trong khoảng 50 – 98 %. Phần còn lại sẽ đi vào nước thải.
Hình 1: Sơ đồ nguyên lý công nghệ dệt nhuộm hàng sợi bông và các nguồn nước thải
  1. Sản xuất hơi:                                                                                          53%
  2. Nước làm lạnh thiết bị:                                                                           6.4%
  3. Nước làm mát và xử lý bụi trong xí nghiệp sợi, dệt:                              7.8%
  4. Nước cho các quá trình chính trong xí nghiệp dệt -  nhuộm:                 72.3%
  5. Nước vệ sinh:                                                                                          7.6%
  6. Nước cho việc phòng cháy và các vấn đề khác:                                      0.6%
     Tổng:                                                                                                          100%

Các nguồn gây ô nhiễm, đặc tính nước thải nghành dệt – nhuộm và các tác động môi trường. Các chất gây ô nhiễm môi trường chính trong nước thải của công nghiệp dệt nhuộm bao gồm:
-          Các tạp chất tách ra từ vải sợi như dầu mỡ, các hợp chất chứa nito, pectin, các chất bụi bẩn dính vào sợi ( trung bình chiếm 6% khối lượng tơ sợi).
-          Các hóa chất sử dụng trong quy trình công nghệ như hồ tình bột. H2SO4, CH3COOH, NaOH, NaOCl, H2O2, Na2CO3, Na2SO4,…các loại thuốc nhuộm, các chất trợ, chất ngấm, chất cầm màu, chất tẩy giặt. Lượng hóa chất sử dụng với từng loại vải, từng loại màu thường khác nhau và chủ yếu đi vào nước thải của từng công đoạn tương ứng.
Đặc trưng quan trọng nhất của nước thải của nước thải từ các cơ sở dệt nhuộm là sự dao động lớn cả về lưu lượng và tải lượng các chất ô nhiễm, nó thay đổi theo mùa, theo mặt hàng xuất và chất lượng sản phẩm. Nhìn chung nước thải từ các cơ sở dệt -  nhuộm có độ kị nước khá cao, có độ màu, nhiệt độ và hàm lượng các chất hữu cơ, tổng chất rắn cao.

 CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM VÀ ĐẶC TÍNH CỦA NƯỚC THẢI NGHÀNH DỆT NHUỘM.

Công đoạnChất ô nhiễm trong nước thảiĐặc tính của nước thải
Hồ sợi, giũ hồTinh bột, glucose, carboxy metyl xenlulo, polyvinyl alcol, nhựa, chất béo và sáp.BOD cao (34 – 50 % tổng BOD)
Nấu tẩyNaOH, chất sáp và dầu mỡ, tro, soda, silicat natri và xơ sợi vụn.Độ kiềm cao, màu tối, BOD cao( tổng 30% BOD)
Tẩy trắngHypoclorit, hợp chất chứa clo, NaOH, AOX, axit…Độ kiềm cao, chiếm 5% BOD
Làm bóngNaOH, tạp chất….Độ kiềm cao, BOD thấp ( dưới 1% tổng BOD)
NhuộmCác loại thuốc nhuộm, axit axetic và các muối kim loại.Độ màu cao, BOD khá cao ( 6% tổng BOD), TS cao.
InChất màu, tinh bột màu, đât sét, muối kim loại, axit…Độ màu cao, BOD cao và dầu mỡ
Hoàn thiệnViết tinh bột, mỡ động vật, muối.Kiềm nhẹ, BOD thấp.

ĐẶC TÍNH NƯỚC THẢI SẢN XUẤT XÍ NGHIỆP DỆT -  NHUỘM HÀNG BÔNG DỆT KIM.

Các thông sốĐơn vịGiá trị nhỏ nhấtGiá trị trung bìnhGiá trị cực đại
pH-8.5-10.3
Nhiệt độ0C252738
CODmg O2/l4206501400
BOD5mg O2/l80180500
TOCmg/l100202350
Tổng photphomg/l265080
SO4-mg/l7508101050
S2-mg/l<0.1<0.10.18
Cl-mg/l4008001650
AOXmg/l0.50.81.2
Crommg/l<0.010.0150.034
Nikelmg/l<0.1<0.10.4
Thành phần nước thải công nghiệp dệt rất đa dạng, bao gồm các chất ô nhiễm dạng hữu cơ thuốc nhuộm, tinh bột, tạp chất) và dạng vô cơ( các muối trung tính, các chất trợ nhuộm)…..
Ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm trong nước thải ngành dệt nhuộm tới nguồn tiếp nhận có thể tóm tắt như sau:
-          Độ kiềm cao làm tăng độ pH của nước. Nếu pH>9 sẽ gây độc hại với các loại thủy sinh, gây ăn mòn các công trình thoát nước và hệ thống xử lý nước thải.
-          Muối trung tính làm tăng hàm lượng tổng chất rắn TS. Lượng thải lớn gây tác hại đối với các loại thủy sinh do làm tăng áp suất thẩm thấu.
-          Hồ tinh bột biến tính làm tăng BOD, COD của nguồn nước, gây tác hại đối với đồi sống thủy sinh do làm giảm ô xy hòa tan trong nước.
-          Độ màu cao do lượng thuốc nhuộm dư đi vào nước thải gây màu cho dòng tiếp nhận, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của các loài thủy sinh, xấu cảnh quan.
-          Các chất độc như sunfit, kim loại nặng, hợp chất halogen hữu cơ (AOX) có khả năng tích tụ trong cơ thể sinh vật gây ra một số bệnh mãn tính hay ung thư đối với người và động vật.

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

TP.HCM: Người dân khổ sở vì ‘bọt lạ’ tấn công môi trường sống

‘Bọt lạ’ trắng xóa, trồi lên từ miệng cống từ nhiều năm nay, người dân liên tục phản ánh đến ngao ngán, còn chính quyền địa phương thì vẫn không giải quyết.

Báo điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được thông tin kêu cứu của những người dân hiện đang sống tại khu phố 2, phường Tăng Nhơn Phú B, Q.9, TP.HCM phản ánh việc môi trường sống của người dân bị ô nhiễm đã hàng chục năm nay, nhưng không được chính quyền địa phương giải quyết dứt điểm.
Để tìm hiểu chính xác về tình trạng ô nhiễm đang xảy ra nơi đây, phóng viên đã trực tiếp có mặt tại khu dân cư đang hàng ngày, hàng giờ phải chịu tình trạng ô nhiễm này.
Chuyển về địa phương này sống đã được hơn 30 năm, nhưng cũng chừng ấy năm, bà Võ Thị Đào (đường Trương Văn Hải, phường Tăng Nhơn Phú B – Q.9, TP.HCM) và gia đình phải sống trong tình trạng môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng.
“Trước đây, nước sinh hoạt ở khu vực này rất trong, nhưng từ ngày Công ty CP Hóa chất Vi sinh  - Xí nghiệp Hương Việt chuyển về phường Hiệp Phú hoạt động, nguồn nước ở đây biến đổi hẳn” – bà Đào bức xúc nói.
Tại nhà bà Đào, nước bơm lên từ giếng nổi ‘bọt lạ’ trắng xóa. Cứ mỗi khi mưa xuống là ‘bọt lạ’ này lại trồi lên từ các nắp cống, kéo theo mùi hôi thối nồng nặc.
                                Nước giếng bơm lên nổi đầy 'bọt lạ' trắng xóa.
Nhà bà Đào có 5 thành viên, nhưng hết 4 thành viên là bị viêm xoang và ho. Dù không dám chắc chắn rằng nguyên nhân bệnh tật là do mùi hôi thối, hay ‘bọt lạ’ tấn công vào khu dân cư, nhưng cuộc sống của gia đình bà bỗng trở nên khó khăn.
Để đối phó, cách duy nhất mà người dân tại đây đã làm là đóng hết các cửa nhà lại, chờ ‘bọt lạ’ tan hết trong không khí, rồi mới dám mở cửa ra.
Công ty CP Hóa chất Vi Sinh – Xí nghiệp Hương Việt nằm trên địa bàn phường Hiệp Phú – Q.9, nhưng khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất lại nằm tại phường Tăng Nhơn Phú B, Q.9, bởi lẽ đây là hai khu vực sát, giáp ranh với nhau.
Không chỉ riêng nhà bà Đào, mà hàng trăm hộ dân đang sinh sống ở khu vực nói trên đều phải chịu đựng mùi hôi, ‘bọt lạ’ thải ra từ trạm xử lý nước thải của Xí nghiệp Hương Việt.
Người dân băn khoăn 'Bọt lạ' trắng xóa trồi lên từ các nắp miệng cống có ảnh hướng tới sức khỏe hay không?
Theo anh Trần Công Viên (đường Trương Văn Hải, phường Tăng Nhơn Phú B, Q.9, TP.HCM), từ ngày môi trường sống của người dân trở nên xấu hơn, bữa ăn và giấc ngủ của các thành viên trong gia đình anh Viên cũng vì thế mà trở nên lộn xộn hơn, do mùi hôi thối quá nồng nặc.
Trước tình trạng đó, để hạn chế tình trạng ô nhiễm, người dân tại nơi này chỉ còn biết dùng những tấm kim loại bịt kín các nắp cống lại để đối phó, nhưng được một thời gian, những tấm kim loại ấy cũng bị gỉ sét, và ‘bọt lạ’ lại tiếp tục tấn công vào khu dân cư như bình thường.
Tình trạng ô nhiễm này đã kéo dài từ rất lâu, thậm chí kéo dài đã hàng chục năm nay, người dân đã hàng chục lần gửi đơn kiến nghị lên chính quyền địa phương, nhưng cho tới nay, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Để đối phó, người dân phải dùng một tấm kim loại bằng sắt để che miệng cống cho khỏi ô nhiễm.
Công ty CP Hóa chất Vi Sinh – Xí nghiệp Hương Việt là đơn vị chuyên sản xuất, gia công sản phẩm mỹ phẩm, chất tẩy rửa, thành lập năm 1982. Ban đầu, xí nghiệp này có tên là Trung tâm nghiên cứu Việt Hương, xong năm 1992 được đổi thành Xí nghiệp Hương Việt.
Để tìm hiểu về những biện pháp của chính quyền địa phương để giải quyết việc ô nhiễm này cho người dân, PV đã có mặt tại UBND phường Hiệp Phú – Q.9 chiều ngày 23/9 để gặp những người có trách nhiệm.
Đại diện lãnh đạo UBND phường Hiệp Phú, bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – cán bộ môi trường xác nhận: Xí nghiệp Hương Việt vi phạm về mức đô gây ô nhiễm môi trường sống là có thật, và đã từng bị xử phạt rất nhiều lần.
Nói về công tác xử phạt những đơn vị gây ô nhiễm, bà Hằng cho rằng, việc xử phạt là rất khó. Bởi lẽ, luật quy định chỉ cho phép cấp độ phường phạt tối đa là 5 triệu đồng, “chẳng thấm tháp vào đâu so với việc vi phạm của các đơn vị”.
Bà Hằng hứa sẽ trích lục thông tin những vi phạm về môi trường của Xí nghiệp Hương Việt trong thời gian sớm nhất, và sẽ có thông tin cụ thể tới PV trong thời gian sắp tới.