Hiển thị các bài đăng có nhãn Bảo vệ môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bảo vệ môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

HÀO DƯƠNG BỊ PHẠT NẶNG VÌ VI PHẠM LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

UBND TP.HCM vừa có quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương.
  
Thời điểm năm 2009 đã phát hiện nước thải của Công ty Hào Dương (TP.HCM) từ bể chứa đến máng thoát xả thẳng ra sông chưa qua xử lý - Ảnh: Nguyễn Triều
Theo quyết định, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương  (lô A18, khu công nghiệp Hiệp Phước, huyện Nhà Bè) đã có những vi phạm trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, bảo vệ môi trường đối với chủ nguồn thải nguy hại, xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên…; đồng thời thu lợi bất hợp pháp từ các hoạt động gây ô nhiễm trên.
Với các hành vi như  trên, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương bị xử phạt tổng số tiền  6,39 tỷ đồng (làm tròn), trong đó số tiền thu lợi bất hợp pháp do những vi phạm về môi trường là 4,39 tỷ đồng.
Ngoài việc yêu cầu Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương tạm ngưng hoạt động để khắc phục hậu quả các công đoạn gây ô nhiễm môi trường, UBND TP yêu cầu công ty này phải nộp phạt vòng 10 ngày kể từ khi nhận được quyết định, nếu không sẽ bị cưỡng chế thi hành.
Theo nguồn: tinnhanhmoitruong.vn

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

LẬP TÒA ÁN MÔI TRƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA CÔNG ĐỒNG

Hiện nay, các cơ chế khiếu kiện khiếu nại, xử lý khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực môi trường chưa bảo vệ được quyền lợi của người dân. Ngoài ra, việc xử lý các vi phạm về môi trường cũng còn nhiều bất cập cả về xử phạt hành chính và xử lý hình sự, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành.
Tình trạng khiếu nại về môi trường đang có xu hướng gia tăng. (Ảnh: TTXVN)

Đây là một trong thông tin chính vừa được ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên đưa ra tại hội thảo “Bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng nhìn từ khía cạnh cải cách tư pháp” tổ chức trong ngày 27/11, tại Hà Nội.

Theo đánh giá của ông Trịnh Lê Nguyên, sau gần 3 thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, hệ quả của sự đánh đổi không cân xứng giữa phát triển và bảo vệ môi trường đang dần bộc lộ với hàng loạt vụ việc xâm phạm môi trường, gây xung đột quyền lợi cũng như gia tăng số lượng lớn “làng ung thư.”

Thống kê của Bệnh viện K cho thấy, trong 5 năm gần đây, trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 150.000 bệnh nhân ung thư mới phát hiện và khoảng 70.000 người chết vì căn bệnh này, tăng gấp nhiều lần so với thời gian trước. Trong đó, cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực bị ô nhiễm là đối tượng gánh chịu nặng nề nhất đối với những thiệt hại do ô nhiễm môi trường.

Đại diện Trung tâm Con người và Thiên nhiên cũng cho biết, mặc dù ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong, thế nhưng hiện nay cơ chế khiếu kiện trong lĩnh vực môi trường còn chưa rõ ràng, dẫn đến thiếu khả thi trong thực tế. Thậm chí, nhiều đơn thư không được giải quyết và không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ các cơ quan chức năng.

Theo báo cáo Chỉ số Công lý do UNDP thực hiện năm 2012, gần 31% người được phỏng vấn cho biết họ đang sống trong môi trường có ô nhiễm. Tuy nhiên, chỉ có 12% trong số đó có khiếu nại hoặc khiếu kiện tới chính quyền để yêu cầu khắc phục tình trạng ô nhiễm và bồi thường thiệt hại.

Cũng vì thế, những vụ việc như người dân lấp cống xả thải Khu công nghiệp Thuy Vân (năm 2012); vụ nhà máy sản xuất tấm lợp Fibro xi-măng ở Phả Lại, tỉnh Hải Dương (2013); hay vụ Nicotex Thanh Thái ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (tháng 8/2013) đã ngày càng trở nên phổ biến hơn trong thời gian gần đây.

Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Hoàng Văn Vy, Phó Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường thừa nhận tình hình khiến nại, tố cáo, tranh chấp môi trường đang ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó, 84% đơn thư là tố cáo, tranh chấp môi trường; 15% đơn thư khiếu nại và 1% kiến nghị.

“Qua rà soát cho thấy, vi phạm về môi trường đang ‘nóng’ lên. Và dù nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng có đơn thư gửi tới cơ quan chức năng đã được giải quyết, nhưng việc khởi kiện ra tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường là rất khó khăn, do thiếu căn cứ pháp lý,” ông Vy chia sẻ thêm.

Trước thực tế nêu trên, ông Vy kiến nghị, cơ quan qản lý nhà nước cần phải xây dựng hành lang pháp lý để giải quyết các tranh chấp về môi trường. Ngoài ra, để việc giải quyết được bồi thường thiệt hại cần có sự tham gia của các nhà khoa học, cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể xã hội, nghề nghiệp.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Nguyễn Văn Tùng (Tòa án Nhân dân Tối cao) cho rằng để giải quyết nghiêm túc các vụ việc khiến nại, tố cáo, tranh chấp môi trường tại các khu vực ô nhiễm, việc cần thiết và cấp bách hiện nay là phải thành lập Tòa án môi trường.

Theo ông Tùng, việc thành lập Tòa án môi trường sẽ góp phần khắc phục những trở ngại trước mắt của công tác bảo vệ môi trường, trừng phạt các hành vi ô nhiễm môi trường đồng thời có thể giải quyết vấn đề vướng mắc của các vụ khiếu kiện về ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI VÀ PHẾ LIỆU

Tại văn bản số 434/TB-VPCP, Văn phòng Chính phủ đã thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về dự thảo Nghị định về quản lý xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn và dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu.

Hệ thống xử lý kim loại ô nhiễm. (Nguồn: Danh Lam/TTXVN)

Thông báo nêu rõ, ngày 5/11, tại Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chủ trì cuộc họp về Nghị định về quản lý xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn và dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu. Sau khi nghe báo cáo của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và ý kiến của các cơ quan liên quan, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã kết luận:

Thời gian qua, công tác quản lý chất thải rắn đã được Chính phủ và các bộ, ngành quan tâm, chỉ đạo. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn đã được ban hành kịp thời với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn đã phát huy được hiệu quả và đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất thải rắn.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn bốn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung, phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long; quy hoạch quản lý chất thải ba lưu vực sông Đồng Nai, sông Cầu và sông Nhuệ-Đáy. 45/63 tỉnh, thành phố hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn. Công tác quản lý thu gom, vận chuyển, đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn đang dần được hoàn thiện.

Để triển khai công tác quản lý chất thải rắn có hiệu quả và đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các Nghị định hướng dẫn luật đã có hiệu lực, các bộ cần thực hiện tốt một số việc sau:

Trên cơ sở Dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu do Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo và dự thảo Nghị định về quản lý xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn do Bộ Xây dựng soạn thảo, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, thống nhất với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan, hợp nhất thành một nghị định, trên cơ sở bảo đảm ổn định, mô hình, cơ chế, chính sách quản lý chất thải rắn đang thực hiện.

Các bộ, ngành tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường và chủ trì thực hiện các cơ chế chính sách quản lý chất thải nguy hại. Bộ Xây dựng trực tiếp chủ trì các cơ chế chính sách quản lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải. Bộ Y tế chủ trì thực hiện các cơ chế chính sách quản lý chất thải y tế. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì thực hiện các cơ chế chính sách quản lý chất thải phóng xạ.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải giao Bộ Tài nguyên và Môi trường tập trung nghiên cứu các ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan để hoàn chỉnh dự thảo Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu theo hướng giảm tối đa các thủ tục hành chính, bảo đảm tính hợp hiến, phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường; cụ thể hóa các nội dung quy định nhằm bảo đảm quy định rõ, đủ đối tượng, nội dung, cơ quan quản lý và các văn bản hướng dẫn thực hiện; rà soát, bổ sung các nguyên tắc cho việc sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành về xuất nhập khẩu phế liệu phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; trình lại dự thảo Nghị định trước ngày 30/11.
Theo nguồn: moitruong.com.vn

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

LẬP CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trước khi đi vào thành lập một dự án thì tất cả các công ty, doanh nghiệp tùy từng quy mô bắt buộc phải tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và lập cam kết bảo vệ môi trường (chi tiết quy định tại Nghị định 29/2011/ BTNMT và thông tư 26/2011/ BTNMT).
 Vậy để giúp các quý doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về vấn đề lập cam kết bảo vệ môi trường, công ty môi trường Minh Việt chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ nhất và chính xác nhất về cách lập cam kết bảo vệ môi trường.
 Xem thêm: Cam kết bảo vệ môi trường là gì? 
 -Theo quy định tại điều 12, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: 
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng không phải lập dự án đầu tư.
 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định.
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng phải lập dự án đầu tư. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phảilập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
 Phạt tiền từ 200.000.000-250.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
 1. Các bước thực hiện lập cam kết bảo vệ môi trường: 
Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực xung quanh dự án như : khảo sát thu thập số liệu về quy mô dự án, khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan.
 Xác định các nguồn gây ô nhiễm của dự án như: khí thải, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn….phát sinh trong quá trình hoạt động của dự án. 
Đánh giá mức độ tác động ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm đến các yếu tố tài nguyên và môi trường. 
Đề xuất phương án xử lý nước thải, khí thải, phương án thu gom và xử lý chất thải rắn từ hoạt động của dự án. Xây dựng chương trình quản lý và giám sát môi trường.
 Soạn thảo công văn, hồ sơ đề nghị phê duyệt Đề án. 
Thẩm định và Quyết định phê duyệt.
2. Các văn bản pháp luật có liên quan: 
Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005. 
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
 3. Hồ sơ đăng ký cam kết bảo vệ môi trường 
 3.1. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các đối tượng phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với hình thức trang bìa, trang phụ bìa; cấu trúc và yêu cầu về nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại các Phụ lục 5.1 và 5.2 Thông tư 26/2011 TT- BTNMT. 
Một (01) dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) có chữ ký (ghi rõ họ tên, chức danh) của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ quan chủ dự án. 
 3.2. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường quy định đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với yêu cầu về hình thức và nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.3 Thông tư này; Một (01) bản thuyết minh về phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được chứng thực bởi chữ ký của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 
 3.3. Đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011 TT – BTNMT, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2. Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường đã được đăng ký hoặc giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang vận hành. 
 3.4. Đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 45 Thông tư này, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh trước đó. 

Các quý công ty, doanh nghiệp nào chưa lập cam kết bảo vệ môi trường hay gặp những khó khăn trong quá trình lặp thì hãy liên hệ với công ty môi trường Minh Việt chúng tôi. 
Với kinh nghiệm hơn 10 năm hoạt động và tập hợp đội ngũ giảng viên đến từ tất cả các trường đại học lớn và nổi tiếng nhất Việt Nam, chúng tôi tự tin đảm bảo sẽ cung cấp cho quý khách dịch vụ lập cam kết bảo vệ môi trường uy tín nhất, nhanh gọn nhất và tiết kiệm chi phí nhất có thể.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

HẢI DƯƠNG: TĂNG CƯỜNG XỬ LÝ Ô NHIỄM

Tăng cường công tác thanh kiểm tra về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT), kiên quyết xử lý triệt để các cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, không để các cơ sở mới gây ô nhiễm phát sinh. Quyết tâm này của tỉnh Hải Dương đã và đang tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong việc nâng cao ý thức BVMT của người dân, doanh nghiệp, là đòn bẩy để địa phương sớm hoàn thành mục tiêu xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Tăng cường xử lý chất thải ô nhiễm
Hàng loạt cơ sở vi phạm luật BVMT
Bước vào thời kỳ đổi mới, các làng nghề được hồi sinh, các cụm công nghiệp vừa và nhỏ hình thành, làm ăn náo nhiệt. Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng đi kèm theo đó là vấn nạn ô nhiễm môi trường. Khói bụi, tiếng ồn, chất thải từ các làng nghề, cụm công nghiệp tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường của Hải Dương.
 Do vậy, ngoài việc xử lý vi phạm hành chính đối với các cơ sở vi phạm, tạm dừng một số cơ sở có hành vi gây ô nhiễm là hành động kịp thời và kiên quyết của tỉnh Hải Dương nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Mặc dù việc tạm dừng hoạt động các cơ sở vi phạm sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế và trực tiếp là nguồn thu ngân sách, nhưng cái được lớn hơn đó là môi trường sống, là sức khỏe của người dân và hướng tới thu hút các ngành sản xuất công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo Báo cáo của Chi Cục BVMT (Sở TN&MT Hải Dương), từ năm 2013 đến nay, Sở đã tiến hành thanh, kiểm tra đối với khoảng 200 lượt cơ sở. Kết quả cho thấy, hầu hết các cơ sở đều có tồn tại, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với các hành vi vi phạm chủ yếu: Không có thủ tục về bảo vệ môi trường, không thực hiện đúng nội dung bản cam kết, báo cáo ĐTM, đề án bảo vệ môi trường; việc quản lý các chất thải phát sinh, giám sát môi trường không đúng quy định; xả nước thải vượt quy chuẩn môi trường cho phép.
Từ những sai phạm trên, Sở TN&MT đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính, kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính và tạm dừng hoạt động đối với một số cơ sở có hành vi vi phạm pháp luật ô nhiễm môi trường với tổng số tiền phạt là  2.246,99 triệu đồng.
Cũng trong thời gian này, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã tiến hành hành mở 1 hồ sơ điều tra về tình hình chấp hành luật BVMT trên toàn tuyến sông Cầu, trong đó có đoạn chảy qua địa phận tỉnh Hải Dương. Theo đó, lực lượng Cảnh sát môi trường đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các 56 cơ sở thuộc tỉnh Hải Dương, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 1,4 tỷ đồng.
Tăng tốc xử lý các “điểm nóng”
Theo Quyết định 64/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Hải Dương có 11 cụm cơ sở và cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có 6 cơ sở đã xử lý xong ô nhiễm, làm thủ tục xin chứng nhận đã hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường triệt để và được sở TN&MT chứng nhận, đưa ra khỏi danh sách là: Bệnh viện Quân y 7 Hải Dương, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại I và II, Công ty chế tạo đá mài Hải Dương, Bệnh viện Lao Hải Dương, Cụm cơ sở sản xuất xi măng lò đứng, Cụm cơ sở chế biến rau quả thực phẩm.
Đối với 3 cơ sở thuộc đối tượng công ích là Nước thải TP Hải Dương – Công ty CP Quản lý Công trình đô thị Hải Dương quản lý, vận hành; bãi rác Soi Nam – Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Dương  quản lý, vận hành và Bệnh viện Đa khoa Hải Dương, hiện nay, UBND tỉnh đã đầu tư dự án, đang triển khai giai đoạn hiệu chỉnh và hoàn thiện ổn định để nghiệm thu.
Riêng với làng nghề giết mổ gia súc, gia cầm Văn Thai, làng nghề cơ khí Tráng Liệt, đến nay, cơ bản các hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đã dừng hoạt động, Chi cục BVMT đang tiến hành tham mưu giúp Sở tổ chức làm việc với UBND các xã có làng nghề hướng dẫn thủ tục đưa ra khỏi danh sách ô nhiễm theo quy định.
  Chi cục BVMT cho biết, thực hiện Quyết định 1788/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, Hải Dương có phát sinh thêm 3 cơ sở trong danh sách gồm Doanh nghiệp tư nhân gà tươi Mạnh Hoạch, Công ty TNHH may Trấn An, Doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ Hương Nguyên. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Sở, đến nay, Doanh nghiệp tư nhân gà tươi Mạnh Hoạch đã hoàn thành xử lý triệt để, 2 cơ sở còn lại đang hoàn thiện đầu tư công trình xử lý môi trường và lập hồ sơ dự kiến sẽ hoàn thiện và đề nghị đưa ra khỏi danh sách trong năm 2014.

PTT

BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Theo thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nước ta hiện nay có hơn ba trăm khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp nằm rải rác ở nhiều tỉnh thành, giải quyết việc làm cho hàng triệu người cũng như góp phần rất lớn vào tình hình kinh tế chung.
Mặc dù vậy, những hệ lụy mà những khu công nghiệp này gây ra về môi trường ô nhiễm, các chất thải rắn, kim loại, chất thải hóa chất và đặc biệt là nguồn nước cũng khá nghiêm trọng, cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết.
Những thực trạng nan giải
Theo tìm hiểu, ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí, từ chất thải rắn là chủ yếu. Ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ khu công nghiệp trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác. Cụ thể, theo nhiều người dân sinh sống tại khu vực kênh Tham Lương (Thành phố Hồ Chí Minh) thì nguồn nước ở đây từ khi xuất hiện khu công nghiệp Tân Bình đã trở lên ô nhiễm trầm trọng, không sử dụng được vào bất cứ mục đích nào. Đáng báo động hơn nữa, hiện nay kênh Tham Lương còn được liệt vào dòng kênh “chết” do không có thứ gì, kể cả cây cỏ có thể tồn tại được ở dòng kênh mà trước kia từng rất trong xanh này. Nguyên nhân của tình trạng này không quá khó để biết được chính là do khu công nghiệp Tân Bình với hàng loạt nhà máy, xí nghiệp cùng hàng ngàn công nhân sinh hoạt hàng ngày thải ra. Ngoài việc làm chết một dòng kênh, ô nhiễm nguồn nước ở đây còn ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người dân do nó bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng tới hệ thống nước ngầm, nước mặt, nhất là vào mùa mưa như hiện nay khiến người dân tỏ ra vô cùng búc xúc.
Lấy một ví dụ cụ thể, chỉ tính riêng tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các khu công nghiệp đã chiếm đến 49% lượng nước thải của các khu công nghiệp trong toàn quốc. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều khu công nghiệp đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp. Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý.
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường về mặt không khí ở các khu công nghiệp lại thường chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp cũ, do các khu công nghiệp này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường. Ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp chủ yếu là bụi, một số khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn. Về tình trạng này, nhiều người dân sinh sống ở những khu công nghiệp thường phản ánh họ thường ngửi thấy những mùi đặc trưng của những sản phẩm ở khu công nghiệp phát tán ra ngoài. Như khu công nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thì ngửi thấy mùi cá sơ chế chẳng hạn. Tuy nhiên, rất nhiều loại khí khác có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người mà thông thường lại không ngửi thấy bằng khứu giác đã được các chuyên gia môi trường cảnh báo đang diễn ra ở các khu công nghiệp hiện nay.
Bên cạnh đó, theo một số thống kê cho thấy, mỗi ngày các khu công nghiệp nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn, tương đương khoảng ba triệu tấn một năm. Một con số khổng lồ nếu tính trên tổng số diện tích và con người sinh sống quanh các khu công nghiệp. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là, lượng chất thải rắn đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Nghĩa là, càng về sau, những khu đất trống dùng để xử lý, chôn lấp chất thải khan hiếm đi, trong khi số lượng lại tăng lên mới là điều khiến người ta lo ngại. Cụ thể, nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh chất thải rắn khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204 tấn/năm (tăng 50%). Riêng những năm gần đây, con số này chắc chắn đã tăng lên gấp nhiều lần và đó chính là mối nguy hại lớn cho môi trường sống xung quanh.
Ngoài ra, có một sự lo ngại là khác nữa là trong khi các ngành nghề sản xuất ở các khu công nghiệp đang có những sự dịch chuyển nhất định để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống thì số lượng chất thải mà các khu công nghiệp này thải ra cũng thay đổi theo. Rất nhiều chất thải là hóa chất, chất độc hại đã được tạo ra khi ngành nghề sản xuất thay đổi trong khi quy trình xử lý chất thải vẫn giữ nguyên như cũ. Điều này đồng nghĩa với việc những hóa chất mới này hầu như không được xử lý hoặc sau khi xử lý, chúng vẫn giữ nguyên yếu tố độc hại và việc thải ra môi trường là vô cùng nguy hiểm. Có lẽ, đây chính là nguyên nhân mà khu công nghiệp nào khi kiểm tra cũng có những dây truyền xử lý chất thải nhưng tại các khu vực xung quanh khu công nghiệp, bằng mắt thường cũng có thể thấy tình trạng ô nhiễm đã tăng đột biến, làm biến đổi hoàn toàn môi trường ở khu vực đó. Thiết nghĩ, tình trạng những khu xử lý chất thải bị “chết” hay không theo kịp cơ cấu hàng sản xuất cần phải được chấm dứt ngay.
Từ những phản ánh trên, không khó để thấy được những hệ lụy, hậu quả nghiêm trọng mà người dân sinh sống ở khu vực có khu công nghiệp phải gánh chịu. Đó chính là nguy cơ về việc gia tăng những loại bệnh mãn tính khi sinh sống gần các khu công nghiệp cũng được nhiều người dân phản ánh. Những loại bệnh tật này, thật nguy hiểm là nó lại không diễn ra trong thời khắc mà tích tụ theo ngày tháng, làm người dân cảm thấy vô cùng bất an. Hơn nữa, nhiều khu công nghiệp lớn lại không nằm biệt lập mà nằm giữa…khu dân cư khiến dịch bệnh càng có nguy cơ bùng phát, tác động nghiêm trọng hơn, lên trên một số lượng rất lớn cá thể con người.
Các giải pháp cấp bách
Ðể từng bước khắc phục tình trạng nói trên, theo chúng tôi thời gian tới các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra pháp luật về công tác bảo vệ môi trường, xử lý các nguồn chất thải tại các khu công nghiệp cũng như cụm khu công nghiệp. Hơn nữa, việc xử lý nghiêm các Doanh nghiệp vi phạm, cũng như kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc cấp hoạt động theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động đánh giá môi trường chiến lược, tác động môi trường đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển, nhất là ở khâu thẩm định, kiểm tra sau thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm các dự án trước khi đi vào hoạt động được xác nhận hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường, đồng thời chỉ cho phép xây dựng các nhà máy, dự án trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp sau khi đã hoàn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình bảo vệ môi trường là những việc làm hết sức cần thiết.
Ngoài ra, việc quy hoạch, dịch chuyển các khu công nghiệp, vùng công nghiệp tới những khu đất biệt lập, nằm xa khu dân cư, vùng ngoại thành xa xôi chính là yếu tố cần thiết để bảo vệ và có biện pháp cách ly, xử lý an toàn môi trường khi cần thiết. Biện pháp này còn khiến cho môi trường quanh khu công nghiệp, môi trường sống của người dân trong tương lai được an toàn, bền vững hơn. Ngoài ra, việc thay đổi liên tục những quy trình xử lý chất thải môi trường ở những khu công nghiệp cũng là việc làm hết sức cần thiết. Tất cả phải ưu tiên những dây truyền sản xuất thân thiện, xanh sạch với môi trường sống để đảm bảo rằng môi trường tại các khu công nghiệp không làm ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sống xung quanh của các khu dân cư khác.
TD

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THÀNH LẬP VÀ QUẢN LÝ QUỶ PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về việc thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai.

Dọn dẹp bùn rác sau khi nước lũ rút. (Ảnh: Hoàng Nam/TTXVN)


Nghị định quy định, các tổ chức kinh tế hạch toán độc lập mức đóng góp bắt buộc 1 năm là hai phần vạn trên tổng giá trị tài sản hiện có tại Việt Nam theo báo cáo tài chính hàng năm nhưng tối thiểu 500.000 đồng, tối đa 100 triệu đồng và được hạch toán vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh.

Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang hưởng lương, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương cơ bản sau khi trừ các khoản thuế, bảo hiểm phải nộp. Người lao động trong các doanh nghiệp đóng 1 ngày lương/người/năm theo mức lương tối thiểu vùng. Người lao động khác đóng 15.000 đồng/người/năm. Chính phủ khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp tự nguyện cho Quỹ.

Nghị định quy định rõ 9 đối tượng được miễn đóng góp như thương binh, bệnh binh và những người được hưởng chính sách như thương binh; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sỹ; Quân nhân làm nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong Công an Nhân dân đang hưởng phụ cấp sinh hoạt phí; sinh viên, học sinh đang theo học tập trung, dài hạn tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học, Dạy nghề; người khuyết tật hoặc bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; người mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên.

Người đang trong giai đoạn thất nghiệp hoặc không có việc làm từ 6 tháng trong 1 năm trở lên; thành viên hộ gia đình thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo; thành viên thuộc hộ gia đình ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; thành viên thuộc hộ gia đình bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, cháy nổ, tai nạn; hợp tác xã không có nguồn thu; tổ chức kinh tế hạch toán độc lập trong năm bị thiệt hại do thiên tai gây ra về tài sản, nhà xưởng, thiết bị, phải tu sửa, mua sắm với giá trị lớn hơn hai phần vạn tổng giá trị tài sản của tổ chức hoặc phải ngừng sản xuất kinh doanh từ 5 ngày trở lên, cũng nằm trong những đối tượng được miễn đóng Quỹ phòng, chống thiên tai.

Trường hợp tổ chức kinh tế hạch toán độc lập được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được xem xét giảm, tạm hoãn đóng góp Quỹ.

Nghị định nêu rõ, Quỹ phòng, chống thiên tai được thành lập ở cấp tỉnh, do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quản lý. Quỹ sẽ chi hỗ trợ các hoạt động phòng, chống thiên tai như cứu trợ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, cụ thể là cứu trợ khẩn cấp về lương thực, nước uống, thuốc chữa bệnh và các nhu cầu cấp thiết khác cho đối tượng bị thiệt hại do thiên tai; hỗ trợ tu sửa nhà ở, cơ sở y tế, trường học, xử lý vệ sinh môi trường vùng thiên tai...

Quỹ được chi hỗ trợ các hoạt động ứng phó thiên tai như sơ tán dân khỏi nơi nguy hiểm; chăm sóc y tế; thực phẩm, nước uống cho người dân nơi sơ tán đến...

Theo nguồn: Moitruong.com.vn

TÀI NGUYÊN THIỆT HẠI VÌ CẤP GIẤY PHÉP TRÀN LAN

Riêng trong 2 năm gần đây, số giấy phép mà các tỉnh thành cả nước cấp đã lên tới khoảng 4.300 giấy phép, trong khi cho tới nay Bộ TN&MT cấp chưa tới 400 giấy phép… Dẫn chứng từ thực tế, có tỉnh đã cấp tới 200 giấy phép khai thác tài nguyên mà số thu thuế chưa được 4 tỷ đồng/năm.
Thu nhiều, trả ít

Hệ thống quản lý tài chính về khoáng sản vẫn còn tồn tại nhiều lỗ hổng, tạo kẽ hở cho việc thất thoát nguồn thu. Đó là vấn đề được đưa ra tranh luận tại Hội thảo “Tăng hiệu quả thu ngân sách từ khai thác khoáng sản: Giải pháp nào cho Việt Nam?” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cùng Liên minh Khoáng sản Việt Nam tổ chức mới đây.


>>Xem thêm: dịch vụ tư vấn môi trường 
Việc phân cấp quá mạnh cho địa phương cấp phép các dự án khai thác khoáng sản đã khiến tài nguyên bị thất thoát nhiều

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI chỉ ra rằng, chính sách quản lý hiện nay chưa khuyến khích được DN khai thác khoáng sản một cách tiết kiệm và hiệu quả, tài nguyên bị tận thu, ngân sách thì thất thoát.

Đồng tình với ý kiến này, ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất khoáng sản (Bộ TN&MT) cho rằng, chính việc phân cấp quá mạnh cho địa phương cấp phép các dự án khai thác khoáng sản đã khiến tài nguyên bị thất thoát nhiều, trong khi phần trả lại không được bao nhiêu.

Ông Thuấn dẫn chứng từ thực tế, có tỉnh đã cấp tới 200 giấy phép khai thác tài nguyên mà số thu thuế chưa được 4 tỷ đồng/năm. Cơ quan thuế kiểm tra, thanh tra liên tục song không thể cải thiện được tình hình. Riêng trong 2 năm gần đây, số giấy phép mà các tỉnh thành cả nước cấp đã lên tới khoảng 4.300 giấy phép, trong khi cho tới nay Bộ TN&MT cấp chưa tới 400 giấy phép…

Khảo sát của VCCI về tình hình hoạt động của các DN khai khoáng cũng cho thấy, thái độ thiếu sòng phẳng của DN làm giàu từ khai thác tài nguyên của đất nước. Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI nói thêm, trách nhiệm đối với người lao động của khối DN này còn kém. Tỷ lệ các DN có đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn trong tổng số DN khai khoáng thấp và thấp hơn tỷ lệ các DN có thực hiện các nghĩa vụ này trong tổng số DN nói chung.

Chưa kể, những DN khai khoáng lại là nhóm gây ra tổn hại tới môi trường nhiều nhất. Năm 2013 có tới 32% DN khai khoáng bị phạt do vi phạm các quy định về môi trường, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 19% của các DN nói chung. Trong khi rất nhiều DN vi phạm quy định về môi trường còn chưa bị phát hiện, xử lý. Đã vậy, theo quy định hiện hành các DN khai thác khoáng sản phải có trách nhiệm hoàn trả môi trường, nhưng rất nhiều DN không thực hiện…

Cần giám sát của cộng đồng

Để khắc phục tình trạng thất thoát tài nguyên, chuyên gia kinh tế, TS. Lê Đăng Doanh cho rằng, đã đến lúc phải xem xét lại nghiêm túc việc phân cấp giữa trung ương và địa phương. Ông Doanh phân tích, hiện tượng một tỉnh cấp tới 200 giấy phép cho thấy có sự lạm quyền để cắt nhỏ các mỏ ra nhằm cấp quyền khai thác, trong khi năng lực quản lý rất kém.

Do đó, tài nguyên âm thầm bị thất thoát khiến ngân sách hụt thu, không đủ trang trải chi phí hành chính quản lý, chưa nói đến việc bù lại cho xây dựng kết cấu hạ tầng cũng như bù đắp cho an sinh xã hội.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Thuấn cho biết, để tăng hiệu quả thu ngân sách trong khai thác khoáng, Luật Khoáng sản năm 2010 đã được sửa theo hướng đổi mới chính sách để buộc các tổ chức, cá nhân phải có đủ điều kiện vốn, công nghệ, kinh nghiệm theo quy định mới được tham gia đấu giá quyền khai thác khoáng sản.

Điểm này đã loại trừ các DN yếu kém về năng lực tài chính, kinh nghiệm. Trước đây, khi chưa thực hiện việc thu tiền khai thác khoáng sản đã xảy ra tình trạng DN khai thác tràn lan, thì nay DN sẽ phải tính toán kỹ việc khai thác căn cứ trên khả năng thực tế.

Song theo TS. Lê Quang Thuận (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính), để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn thu từ tài nguyên khoáng sản thì các biện pháp cần phải chặt chẽ hơn nữa. Hai điểm mấu chốt mà ông Thuận đề xuất là phải có giá tính thuế hợp lý và quản lý sản lượng chặt chẽ hơn. Theo đó, dù thuế suất cao đến mấy nhưng giá tính thuế và quản lý sản lượng khai thác không chặt chẽ thì số thu cũng không thể cao.

Giá tính thuế hiện nay do chính quyền địa phương xác định trên cơ sở tham mưu của các đơn vị liên quan như Sở TN&MT, cục thuế… song vẫn chưa hợp lý. Với cơ chế quản lý thuế theo nguyên tắc giao DN tự khai tự nộp cũng chưa tạo điều kiện để kê khai sản lượng khai thác một cách minh bạch. Trong khi công tác thanh tra của các cơ quan chức năng vẫn rất lỏng lẻo.

Ông Đặng Ngọc Dinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu hỗ trợ cộng đồng (CECODES) cũng lo ngại, quản lý hoạt động tài nguyên có thể xảy ra nguy cơ chính quyền bị DN mua chuộc. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có người giám sát, thanh tra thường xuyên.

Để tăng cường hoạt động giám sát này, bà Trần Thanh Thủy, điều phối viên Liên minh Khoáng sản thúc giục, cần sớm thực thi Sáng kiến Minh bạch trong công nghiệp khai thác (EITI). Nguyên tắc hoạt động của EITI là Chính phủ và DN cùng công khai một số thông tin liên quan đến công nghiệp khai thác dưới sự giám sát của một hội đồng gồm các bên liên quan là Chính phủ, DN và cộng đồng.

Nguyên tắc này sẽ thúc đẩy các thảo luận chính sách và qua đó hỗ trợ cải cách chính sách và nâng cao trách nhiệm giải trình.

Theo nguồn: Moitruong.com.vn

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm chất lượng nhất

Hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm chất lượng nhất - Công ty môi trường Minh Việt chuyên tư vấn thiết kế xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Công ty có đội ngũ kỹ thuật chuyên sâu về môi trường, thiết kế các hệ thống hiện đại, giảm chi phí đầu tư , áp dụng công nghệ xử lý nước thải hiện đại, hoàn thành theo đúng thời gian đề ra. Với tiêu chí“Uy tín, chất lượng để giữ vững niềm tin với khách hàng”.

Nghành dệt là nghành công nghiệp có dây chuyền công nghệ phức tạp, áp dụng nhiều loại hình công nghệ khác nhau. Đồng thời trong quá trình sản xuất sử dụng các nguồn nguyên liệu, hóa chất khác nhau và cũng sản xuất ra nhiều mặt hàng có mẫu mã, màu sắc, chủng loại khác nhau.
Nguyên liệu chủ yếu là xơ bông, xơ nhân tạo để sản xuất các loại vải cotton và vải pha. Ngoài ra còn sử dụng các nguyên liệu như lông thú, đay gai, tơ tằm để sản xuất các mặt hàng tương ứng.
Thông thường công nghệ dệt nhuộm gồm 3 quá trình cơ bản: kéo sợi, dệt vải và xử lý (nấu tẩy), nhuộm và hoàn thiện vải. Trong đó được chia thành các công đoạn sau:
  • Làm sạch nguyên liệu.
  • Chải.
  • Kéo sợi, đánh ống, mắc sợi.
  • Hồ sơi dọc.
  • Dệt vải.
  • Giã hồ.
  • Nấu vải.
  • Làm bóng vải.
  • Tẩy tắng.
  • Nhuộm vải và hoàn thiện.

PHẠM VI SỬ DỤNG CÁC LOẠI THUỐC NHUỘM TRONG CÔNG NGHIỆP DỆT

Sợi bôngSợi từ xenlulo thực vâtLenTơ lụaPolyamitPolyesterpolyacylonillril
Trực tiếpXx
Hoàn nguyênXx
Hoàn nguyên ( indigozol)X
Lưu huỳnhXx
Hoạt tínhXxx
NaphtholX
Phân tánxx
Pigmentx
Axitxxx
Phức kim loạixx
Cation ( kiềm)x
cromx
Độ gắn màu của các loại thuốc nhuộm vào sợi rất khác nhau. Tỷ lệ màu gắn vào sợi nằm trong khoảng 50 – 98 %. Phần còn lại sẽ đi vào nước thải.
Hình 1: Sơ đồ nguyên lý công nghệ dệt nhuộm hàng sợi bông và các nguồn nước thải
  1. Sản xuất hơi:                                                                                          53%
  2. Nước làm lạnh thiết bị:                                                                           6.4%
  3. Nước làm mát và xử lý bụi trong xí nghiệp sợi, dệt:                              7.8%
  4. Nước cho các quá trình chính trong xí nghiệp dệt -  nhuộm:                 72.3%
  5. Nước vệ sinh:                                                                                          7.6%
  6. Nước cho việc phòng cháy và các vấn đề khác:                                      0.6%
     Tổng:                                                                                                          100%

Các nguồn gây ô nhiễm, đặc tính nước thải nghành dệt – nhuộm và các tác động môi trường. Các chất gây ô nhiễm môi trường chính trong nước thải của công nghiệp dệt nhuộm bao gồm:
-          Các tạp chất tách ra từ vải sợi như dầu mỡ, các hợp chất chứa nito, pectin, các chất bụi bẩn dính vào sợi ( trung bình chiếm 6% khối lượng tơ sợi).
-          Các hóa chất sử dụng trong quy trình công nghệ như hồ tình bột. H2SO4, CH3COOH, NaOH, NaOCl, H2O2, Na2CO3, Na2SO4,…các loại thuốc nhuộm, các chất trợ, chất ngấm, chất cầm màu, chất tẩy giặt. Lượng hóa chất sử dụng với từng loại vải, từng loại màu thường khác nhau và chủ yếu đi vào nước thải của từng công đoạn tương ứng.
Đặc trưng quan trọng nhất của nước thải của nước thải từ các cơ sở dệt nhuộm là sự dao động lớn cả về lưu lượng và tải lượng các chất ô nhiễm, nó thay đổi theo mùa, theo mặt hàng xuất và chất lượng sản phẩm. Nhìn chung nước thải từ các cơ sở dệt -  nhuộm có độ kị nước khá cao, có độ màu, nhiệt độ và hàm lượng các chất hữu cơ, tổng chất rắn cao.

 CÁC CHẤT GÂY Ô NHIỄM VÀ ĐẶC TÍNH CỦA NƯỚC THẢI NGHÀNH DỆT NHUỘM.

Công đoạnChất ô nhiễm trong nước thảiĐặc tính của nước thải
Hồ sợi, giũ hồTinh bột, glucose, carboxy metyl xenlulo, polyvinyl alcol, nhựa, chất béo và sáp.BOD cao (34 – 50 % tổng BOD)
Nấu tẩyNaOH, chất sáp và dầu mỡ, tro, soda, silicat natri và xơ sợi vụn.Độ kiềm cao, màu tối, BOD cao( tổng 30% BOD)
Tẩy trắngHypoclorit, hợp chất chứa clo, NaOH, AOX, axit…Độ kiềm cao, chiếm 5% BOD
Làm bóngNaOH, tạp chất….Độ kiềm cao, BOD thấp ( dưới 1% tổng BOD)
NhuộmCác loại thuốc nhuộm, axit axetic và các muối kim loại.Độ màu cao, BOD khá cao ( 6% tổng BOD), TS cao.
InChất màu, tinh bột màu, đât sét, muối kim loại, axit…Độ màu cao, BOD cao và dầu mỡ
Hoàn thiệnViết tinh bột, mỡ động vật, muối.Kiềm nhẹ, BOD thấp.

ĐẶC TÍNH NƯỚC THẢI SẢN XUẤT XÍ NGHIỆP DỆT -  NHUỘM HÀNG BÔNG DỆT KIM.

Các thông sốĐơn vịGiá trị nhỏ nhấtGiá trị trung bìnhGiá trị cực đại
pH-8.5-10.3
Nhiệt độ0C252738
CODmg O2/l4206501400
BOD5mg O2/l80180500
TOCmg/l100202350
Tổng photphomg/l265080
SO4-mg/l7508101050
S2-mg/l<0.1<0.10.18
Cl-mg/l4008001650
AOXmg/l0.50.81.2
Crommg/l<0.010.0150.034
Nikelmg/l<0.1<0.10.4
Thành phần nước thải công nghiệp dệt rất đa dạng, bao gồm các chất ô nhiễm dạng hữu cơ thuốc nhuộm, tinh bột, tạp chất) và dạng vô cơ( các muối trung tính, các chất trợ nhuộm)…..
Ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm trong nước thải ngành dệt nhuộm tới nguồn tiếp nhận có thể tóm tắt như sau:
-          Độ kiềm cao làm tăng độ pH của nước. Nếu pH>9 sẽ gây độc hại với các loại thủy sinh, gây ăn mòn các công trình thoát nước và hệ thống xử lý nước thải.
-          Muối trung tính làm tăng hàm lượng tổng chất rắn TS. Lượng thải lớn gây tác hại đối với các loại thủy sinh do làm tăng áp suất thẩm thấu.
-          Hồ tinh bột biến tính làm tăng BOD, COD của nguồn nước, gây tác hại đối với đồi sống thủy sinh do làm giảm ô xy hòa tan trong nước.
-          Độ màu cao do lượng thuốc nhuộm dư đi vào nước thải gây màu cho dòng tiếp nhận, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của các loài thủy sinh, xấu cảnh quan.
-          Các chất độc như sunfit, kim loại nặng, hợp chất halogen hữu cơ (AOX) có khả năng tích tụ trong cơ thể sinh vật gây ra một số bệnh mãn tính hay ung thư đối với người và động vật.

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

"Hãy hành động vì môi trường không rác"

"Hãy hành động vì môi trường không rác" là chủ đề hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn do Bộ TN&MT phát động tại Lễ Mít tinh quốc gia hưởng ứng Chiến dịch năm 2014 được tổ chức vào sáng 24/9 tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến phát biểu phát động Chiến dịch

Tham dự có Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Dương Ngọc Long, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam Hugh Borrowman cùng đông đảo cán bộ, học sinh, sinh viên và nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
 
Phát biểu tại lễ phát động, Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến cho biết, năm 2014, Bộ TN&MT đã lựa chọn chủ đề hưởng ứng Chiến dịch năm 2014 là “Hãy hành động vì một môi trường không rác” nhằm đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động cán bộ và người dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường; tạo dư luận và áp lực xã hội lên án những hành vi gây ô nhiễm môi trường, vi phạm phát luật về bảo vệ môi trường đặc biệt là trong vấn đề thu gom, xử lý rác thải, qua đó nêu cao những hành động của mỗi cá nhân trong các hoạt động chung của cộng đồng và sẽ tác động lan tỏa, từ đó nâng cao nhận thức của cá nhân, của cộng đồng về trách nhiệm đối với môi trường, góp phần vào những nỗ lực vì môi trường toàn cầu.
 
Theo thống kế, tổn thất do ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện lên tới 5,5% GDP, đồng thời mỗi năm thiệt hại 780 triệu USD vào việc phục hồi sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường. Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy, quá trình phát triển kinh tế không quan tâm tới các vấn đề môi trường sẽ mang  lại hiệu quả kinh tế thấp, chi phí cho các hoạt động xử lý ô nhiễm cao hơn chi phí đầu tư cho các biện pháp kiểm soát ô nhiễm.
 
Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến kêu gọi các Bộ, ngành, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp cùng với các tỉnh, thành trên cả nước, có những hành động thiết thực, cùng nhau liên kết, tạo nên một sức mạnh to lớn để góp phần bảo vệ môi trường. Tiếp tục quan tâm hơn nữa tới công tác tuyên truyền nâng cao ý thức, nhận thức về bảo vệ môi trường, để biến ý thức bảo vệ môi trường thành ý thức tự giác và thể hiện bằng những hành động cụ thể. Lấy phòng ngừa ô nhiễm làm phương châm hành động, hạn chế tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt mà coi nhẹ bảo vệ môi trường, đồng thời huy động tối đa và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường.
 
“Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại, là nhiệm vụ của mỗi người; không phải làm điều gì quá lớn lao mà hãy bảo vệ môi trường ngay đầu từ những hành động cụ thể, thiết thực tại nơi sinh sống của chúng ta, và điều này sẽ có tác động lan tỏa đến toàn cầu, góp phần làm cho thế giới của chúng ta ngày càng xanh, sạch hơn”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
 
Nhân dịp này, UBND tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức trao giải Cuộc thi Video - Clip về bảo vệ môi trường cho các học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh. Cuộc thi với chủ đề “Hãy hành động để ngăn nước biển dâng” với mục tiêu tăng cường nhận thức, ý thức trách nhiệm, sinh thần sáng tạo của học sinh, sinh viên từ đó góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, khuyến khích phổ biến, nhân rộng và tiến tới áp dụng các ý tưởng sáng tạo, độc đáo, mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, tài nguyên môi trưởng biển và đại dương. Cuộc thi đã nhận được 587 tác phẩm tham dự, Ban Tổ chức đã lựa chọn ra 30 tác phẩm xuất sắc nhất để trao giải. Cũng tại Lễ phát động, UBND tỉnh Thái Nguyên đã trao bằng khen cho 9 tổ chức, 4 cá nhân có thành tích tiêu biểu về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh.
 
Ngay sau khi kết thúc Lễ phát động, các đại biểu và người dân của thành phố Thái Nguyên cùng ra quân trồng cây xanh và làm vệ sinh môi trường trên các tuyến đường trên địa bàn; ra quân vệ sinh môi trường cấp quận/huyện để hưởng ứng thu gom rác, vớt rác trên kênh, mương thoát nước, nạo vét cống rãnh…
Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn (gọi tắt là Chiến dịch) do Australia khởi xướng từ năm 1993 và được Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc phát động trên phạm vi toàn cầu, tổ chức vào tuần thứ 3 tháng 9 hàng năm.

Chiến dịch đã trở thành một sự kiện môi trường quốc tế thường niên quan trọng, thu hút sự tham gia hưởng ứng của hàng trăm triệu người và hơn 130 quốc gia.

Việt Nam tham gia hưởng ứng Chiến dịch từ năm 1994. Đến nay, Chiến dịch đã được các Bộ ngành, đoàn thể, địa phương và đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng thông qua nhiều hoạt động hiệu quả.
                                                                                                                                                        T.H (tổng hợp )