Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2014

LẬP CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trước khi đi vào thành lập một dự án thì tất cả các công ty, doanh nghiệp tùy từng quy mô bắt buộc phải tiến hành lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và lập cam kết bảo vệ môi trường (chi tiết quy định tại Nghị định 29/2011/ BTNMT và thông tư 26/2011/ BTNMT).
 Vậy để giúp các quý doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về vấn đề lập cam kết bảo vệ môi trường, công ty môi trường Minh Việt chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin đầy đủ nhất và chính xác nhất về cách lập cam kết bảo vệ môi trường.
 Xem thêm: Cam kết bảo vệ môi trường là gì? 
 -Theo quy định tại điều 12, Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: 
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng không phải lập dự án đầu tư.
 Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định.
 Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường của các đối tượng phải lập dự án đầu tư. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có quy mô, công suất tương đương với trường hợp phảilập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.
 Phạt tiền từ 200.000.000-250.000.000 đồng đối với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường được xác nhận theo quy định. 
 1. Các bước thực hiện lập cam kết bảo vệ môi trường: 
Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực xung quanh dự án như : khảo sát thu thập số liệu về quy mô dự án, khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan.
 Xác định các nguồn gây ô nhiễm của dự án như: khí thải, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn….phát sinh trong quá trình hoạt động của dự án. 
Đánh giá mức độ tác động ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm đến các yếu tố tài nguyên và môi trường. 
Đề xuất phương án xử lý nước thải, khí thải, phương án thu gom và xử lý chất thải rắn từ hoạt động của dự án. Xây dựng chương trình quản lý và giám sát môi trường.
 Soạn thảo công văn, hồ sơ đề nghị phê duyệt Đề án. 
Thẩm định và Quyết định phê duyệt.
2. Các văn bản pháp luật có liên quan: 
Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005. 
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. 
 3. Hồ sơ đăng ký cam kết bảo vệ môi trường 
 3.1. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các đối tượng phải lập bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với hình thức trang bìa, trang phụ bìa; cấu trúc và yêu cầu về nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại các Phụ lục 5.1 và 5.2 Thông tư 26/2011 TT- BTNMT. 
Một (01) dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) có chữ ký (ghi rõ họ tên, chức danh) của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ quan chủ dự án. 
 3.2. Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường quy định đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP gồm: 
 Ba (03) bản cam kết bảo vệ môi trường với yêu cầu về hình thức và nội dung thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.3 Thông tư này; Một (01) bản thuyết minh về phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được chứng thực bởi chữ ký của người đại diện có thẩm quyền và đóng dấu (nếu có) của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 
 3.3. Đối với đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 45 Thông tư 26/2011 TT – BTNMT, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2. Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường đã được đăng ký hoặc giấy xác nhận bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc giấy xác nhận đề án bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang vận hành. 
 3.4. Đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 45 Thông tư này, ngoài các văn bản quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường phải kèm theo một (01) bản sao văn bản chứng minh bản cam kết bảo vệ môi trường của dự án, phương án sản xuất, kinh doanh trước đó. 

Các quý công ty, doanh nghiệp nào chưa lập cam kết bảo vệ môi trường hay gặp những khó khăn trong quá trình lặp thì hãy liên hệ với công ty môi trường Minh Việt chúng tôi. 
Với kinh nghiệm hơn 10 năm hoạt động và tập hợp đội ngũ giảng viên đến từ tất cả các trường đại học lớn và nổi tiếng nhất Việt Nam, chúng tôi tự tin đảm bảo sẽ cung cấp cho quý khách dịch vụ lập cam kết bảo vệ môi trường uy tín nhất, nhanh gọn nhất và tiết kiệm chi phí nhất có thể.

THẨM ĐỊNH BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Sau khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đến cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc thẩm định quy định tại điểm a, điểm b khoản 7 Điều 21 Luật Bảo vệ môi trường và khoản 5 Điều 1 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP.

Sau đây công ty môi trường Minh Việt xin được giới thiệu về việc thẩm định báo cáo đánh giá tác đông môi trường.

Hồ sơ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Hồ sơ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm:
  • 01 (một) văn bản của chủ dự án đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mẫu tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư này;
  • 07 (bảy) bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được đóng thành quyển theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này, có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa. Trường hợp số lượng thành viên hội đồng thẩm định nhiều hơn 07 (bảy) người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm số lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường theo yêu cầu của cơ quan tổ chức việc thẩm định;
  • 01 (một) bản báo cáo đầu tư hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật hoặc dự án đầu tư hoặc tài liệu tương đương của dự án có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa.

 Thời điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Thời điểm gửi hồ sơ đề nghị thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án được quy định như sau:
  • Chủ dự án đầu tư khai thác khoáng sản trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản;
  • Chủ dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc có hạng mục xây dựng công trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi xin cấp giấy phép xây dựng, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản này;
  • Chủ các dự án đầu tư không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a và b khoản này trình báo cáo đánh giá tác động môi trường để được thẩm định, phê duyệt trước khi khởi công dự án.
Nếu có điều gì cần tư vấn thêm xin hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
CÔNG TY KHOA HỌC KỸ THUẬT & MÔI TRƯỜNG MINH VIỆT Địa chỉ: 347/23 Lê Văn Thọ, Phường 9, Q.Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh MST: 0304116535 E-mail: mivitechvn@gmail.com Điện thoại: 08.6273.1380 – Fax: 08.5427.3427 Website: http://moitruongmivitech.com

 

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

LÀNG CHÀY MIỀN TRUNG THIẾU NƯỚC TRẦM TRỌNG

Theo báo cáo giám sát môi trường định kỳ hơn 200 hộ gia đình đang tiếp tục đấu tranh với tình trạng thiếu nước trong một làng chài phường Ghềnh Ráng ở vùng ven biển miền trung tỉnh Bình Định.

bao cao moi truong
Cung cấp nước cho làng chày, hộ gia đình

Thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường ĐTM, báo cáo giám sát môi trường định kỳ, hướng dẫn làm báo cáo giám sát môi trường định kỳ
Sự thiếu hụt đã mở rộng vào tháng thứ hai báo cáo giám sát môi trường định kỳ và bắt đầu khi ba giếng địa phương chạy ra khỏi nước, cắt hộ gia đình ở thành phố Quy Nhơn. 
Sự thiếu hụt đã mở rộng vào tháng thứ hai và bắt đầu khi ba giếng địa phương chạy ra khỏi nước, cắt hộ gia đình ở thành phố Quy Nhơn.
Người dân địa phương Lê Diệu Ngọc cho biết gia đình cô đã từ viện để mua nước từ thành phố đến hoạt động hàng ngày, như nấu ăn và uống.
"Tại thời điểm này, xe tăng của chúng tôi để lưu trữ nước mưa cũng là trống rỗng, vì thời tiết nóng kéo dài," cô nói.
bao-ve-moi-truong
Trên địa bàn tỉnh, chi phí khoảng 70 ,000-100, 000 (US $ 3-5) cho mỗi 1.000 lít nước sạch. Các thêm chi phí đã là một gánh nặng đối với một số hộ gia đình, báo cáo giám sát môi trường người vẫn còn một số những người nghèo nhất trong thành phố.
Một cư dân địa phương, ông Võ Văn Chung, cho biết Ủy ban nhân dân của phường đã đề nghị cung cấp 1 triệu đồng (47 USD) cho mỗi hộ gia đình đào giếng.
"Nhưng chúng tôi nói không," ông nói.
Hướng dẫn làm hồ sơ xử lý nước thải sản xuất, xử lý khí thải, thiết kế hệ thống xử lý nước thải, xử lý khí thải
Chi phí đào giếng được ước tính là khoảng 10 triệu đồng ($ 470) và không ai chắc chắn rằng nước sẽ được tìm thấy, ông nói.
Nguyễn Xuân Thành, Bí thư phường cho biết, làng chài được đặt tại một vùng xa xôi của thành phố và được bao quanh bởi các dãy núi và biển.
Mặc dù nó đã được khoảng 10km từ trung tâm huyện của thành phố, khu vực này đã được liệt kê là vùng nghèo nhất của thành phố, ông nói.
Kết quả là, các hộ gia đình báo cáo giám sát định kỳ sẽ phải sử dụng nước giếng để sinh hoạt hàng ngày, ông nói.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân địa phương Huỳnh Văn Trung cho biết, khu vực này đã phải chịu đựng nhiều nhất từ ​​tình trạng thiếu nước trong những năm gần đây.
Trong ngắn hạn, ủy ban sẽ bắt đầu gửi xe bồn để bán nước sạch cho người dân địa phương trong vài ngày tới, ông nói.
Trong dài hạn, ủy ban đã có kế hoạch để xây dựng một bể chứa lớn trên một ngọn núi địa phương, nơi các nhà khoa học đã xác định được một nguồn nước ổn định, cung cấp nước cho các hộ gia đình, ông nói thêm.
Nó đã được tính toán để có giá khoảng 7 tỷ đồng ($ 350,000) để xây dựng bể, ông nói thêm.
Ủy ban đã từ gửi một yêu cầu hỗ trợ tài chính từ thành phố dựa trên báo cáo môi trường
Tại thị xã Trà Xuân ở tỉnh ven biển miền Trung Quảng Ngãi, khoảng 1.200 hộ gia đình, những người đã được phụ thuộc vào giếng cho một thập kỷ, đã được bị thiếu nước, trong khi giếng địa phương đã chạy khô do điều kiện thời tiết nóng.
Thị trấn, trong đó có khoảng 1.800 hộ gia đình, xây dựng một hệ thống cung cấp nước sạch cho người dân địa phương vào năm 2005. Tuy nhiên, hệ thống này chỉ được cung cấp nước sạch cho 600 hộ gia đình.
Cư dân Trần Minh Tâm cho biết, trong mùa cam kết bảo vệ môi trường khô năm ngoái, gia đình ông đã dành 30 triệu đồng ($ 1,500) để đào giếng, nhưng nước có cũng chỉ trong mùa mưa, ông nói thêm.
Nguyễn Duy Tân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân của thị trấn, cho biết yêu cầu đã được đệ trình lên tỉnh để xây dựng một hệ thống bổ sung để cung cấp nước sạch cho các hộ gia đình, nhưng không có phản ứng đã được đưa ra.

PTT

10 HẬU QUẢ ĐIỂN HÌNH CỦA SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

Biến đổi khí hậu là những thay đổi lớn làm ảnh hưởng đến môi trường sống, bầu khí quyển và khí hậu nói chung. Nó tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái trên trái đất và sống hàng ngày của con người. Biến đổi khí hậu đã đang và sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng và không thể không quan tâm tới.
1. Các hệ sinh thái bị phá hủy
Biến đổi khí hậu và lượng cacbon dioxite ngày càng tăng cao đang thử thách các hệ sinh thái của chúng ta. Các hậu quả như thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta mà còn là vấn đề sinh tồn.
San hô bị tẩy trắng do nước biển ấm lên chỉ là một trong rất nhiều tác hại của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái.
2. Mất đa dạng sinh học
Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa. Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa, do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Các nhà sinh vật học nhận thấy đã có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt độ phù hợp. Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực.
Con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng. Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta. Và khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi.
3. Chiến tranh và xung đột
Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm, đất đai dần biến mất nhưng dân số cứ tiếp tục tăng; đây là những yếu tố gây xung đột và chiến tranh giữa các nước và vùng lãnh thổ.
Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu đã dần làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur. Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao.
Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh.
Xung đột ở Darfur (Sudan) xảy ra một phần là do các căng thẳng của biến đổi khí hậu.
4. Các tác hại đến kinh tế
Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt độ trái đất. Các cơn bão lớn làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la; ngoài ra, để khống chế dịch bệnh phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khổng lồ. Khí hậu càng khắc nghiệt càng làm thâm hụt các nền kinh tế.
Các tổn thất về kinh tế ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống. Người dân phải chịu cảnh giá cả thực phẩm và nhiên liệu leo thang; các chính phủ phải đối mặt với việc lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể, nhu cầu thực phẩm và nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới.
5. Dịch bệnh
Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới.
Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới.
Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy.
6. Hạn hán
Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài. Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước. Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát.
Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%.
7. Bão lụt
Nhiệt độ nước ở các biển và đại dương ấm lên là nhân tố tiếp thêm sức mạnh cho các cơn bão. Những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn. Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi.
8. Những đợt nắng nóng gay gắt
Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay.
Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, và tất nhiên là đóng góp vào việc làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất.
9. Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ
Các núi băng và sông băng đang co lại. Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ. Lấy một ví dụ, các núi băng ở dãy Hy Mã Lạp Sơn cung cấp nước ngọt cho sông Hằng – nguồn nước uống và canh tác của khoảng 500 triệu người – đang co lại khoảng 37m mỗi năm.
10. Mực nước biển đang dâng lên
Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên. Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương.
Các bờ biển đang biến mất. Bãi biển ở Miami nằm trong số rất nhiều những khu vực khác trên thế giới đang bị đe dọa bởi nước biển dâng ngày càng cao.
Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc hay các quốc gia nằm ven biển. Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100. Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn biến mất.

HẢI DƯƠNG: TĂNG CƯỜNG XỬ LÝ Ô NHIỄM

Tăng cường công tác thanh kiểm tra về thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT), kiên quyết xử lý triệt để các cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, không để các cơ sở mới gây ô nhiễm phát sinh. Quyết tâm này của tỉnh Hải Dương đã và đang tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong việc nâng cao ý thức BVMT của người dân, doanh nghiệp, là đòn bẩy để địa phương sớm hoàn thành mục tiêu xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Tăng cường xử lý chất thải ô nhiễm
Hàng loạt cơ sở vi phạm luật BVMT
Bước vào thời kỳ đổi mới, các làng nghề được hồi sinh, các cụm công nghiệp vừa và nhỏ hình thành, làm ăn náo nhiệt. Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhưng đi kèm theo đó là vấn nạn ô nhiễm môi trường. Khói bụi, tiếng ồn, chất thải từ các làng nghề, cụm công nghiệp tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường của Hải Dương.
 Do vậy, ngoài việc xử lý vi phạm hành chính đối với các cơ sở vi phạm, tạm dừng một số cơ sở có hành vi gây ô nhiễm là hành động kịp thời và kiên quyết của tỉnh Hải Dương nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Mặc dù việc tạm dừng hoạt động các cơ sở vi phạm sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế và trực tiếp là nguồn thu ngân sách, nhưng cái được lớn hơn đó là môi trường sống, là sức khỏe của người dân và hướng tới thu hút các ngành sản xuất công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Theo Báo cáo của Chi Cục BVMT (Sở TN&MT Hải Dương), từ năm 2013 đến nay, Sở đã tiến hành thanh, kiểm tra đối với khoảng 200 lượt cơ sở. Kết quả cho thấy, hầu hết các cơ sở đều có tồn tại, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với các hành vi vi phạm chủ yếu: Không có thủ tục về bảo vệ môi trường, không thực hiện đúng nội dung bản cam kết, báo cáo ĐTM, đề án bảo vệ môi trường; việc quản lý các chất thải phát sinh, giám sát môi trường không đúng quy định; xả nước thải vượt quy chuẩn môi trường cho phép.
Từ những sai phạm trên, Sở TN&MT đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính, kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính và tạm dừng hoạt động đối với một số cơ sở có hành vi vi phạm pháp luật ô nhiễm môi trường với tổng số tiền phạt là  2.246,99 triệu đồng.
Cũng trong thời gian này, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã tiến hành hành mở 1 hồ sơ điều tra về tình hình chấp hành luật BVMT trên toàn tuyến sông Cầu, trong đó có đoạn chảy qua địa phận tỉnh Hải Dương. Theo đó, lực lượng Cảnh sát môi trường đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các 56 cơ sở thuộc tỉnh Hải Dương, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 1,4 tỷ đồng.
Tăng tốc xử lý các “điểm nóng”
Theo Quyết định 64/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Hải Dương có 11 cụm cơ sở và cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó có 6 cơ sở đã xử lý xong ô nhiễm, làm thủ tục xin chứng nhận đã hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường triệt để và được sở TN&MT chứng nhận, đưa ra khỏi danh sách là: Bệnh viện Quân y 7 Hải Dương, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại I và II, Công ty chế tạo đá mài Hải Dương, Bệnh viện Lao Hải Dương, Cụm cơ sở sản xuất xi măng lò đứng, Cụm cơ sở chế biến rau quả thực phẩm.
Đối với 3 cơ sở thuộc đối tượng công ích là Nước thải TP Hải Dương – Công ty CP Quản lý Công trình đô thị Hải Dương quản lý, vận hành; bãi rác Soi Nam – Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hải Dương  quản lý, vận hành và Bệnh viện Đa khoa Hải Dương, hiện nay, UBND tỉnh đã đầu tư dự án, đang triển khai giai đoạn hiệu chỉnh và hoàn thiện ổn định để nghiệm thu.
Riêng với làng nghề giết mổ gia súc, gia cầm Văn Thai, làng nghề cơ khí Tráng Liệt, đến nay, cơ bản các hộ gia đình sản xuất trong làng nghề đã dừng hoạt động, Chi cục BVMT đang tiến hành tham mưu giúp Sở tổ chức làm việc với UBND các xã có làng nghề hướng dẫn thủ tục đưa ra khỏi danh sách ô nhiễm theo quy định.
  Chi cục BVMT cho biết, thực hiện Quyết định 1788/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, Hải Dương có phát sinh thêm 3 cơ sở trong danh sách gồm Doanh nghiệp tư nhân gà tươi Mạnh Hoạch, Công ty TNHH may Trấn An, Doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ Hương Nguyên. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Sở, đến nay, Doanh nghiệp tư nhân gà tươi Mạnh Hoạch đã hoàn thành xử lý triệt để, 2 cơ sở còn lại đang hoàn thiện đầu tư công trình xử lý môi trường và lập hồ sơ dự kiến sẽ hoàn thiện và đề nghị đưa ra khỏi danh sách trong năm 2014.

PTT

BÁO ĐỘNG Ô NHIỄM TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Theo thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nước ta hiện nay có hơn ba trăm khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp nằm rải rác ở nhiều tỉnh thành, giải quyết việc làm cho hàng triệu người cũng như góp phần rất lớn vào tình hình kinh tế chung.
Mặc dù vậy, những hệ lụy mà những khu công nghiệp này gây ra về môi trường ô nhiễm, các chất thải rắn, kim loại, chất thải hóa chất và đặc biệt là nguồn nước cũng khá nghiêm trọng, cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết.
Những thực trạng nan giải
Theo tìm hiểu, ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, cụm khu công nghiệp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí, từ chất thải rắn là chủ yếu. Ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ khu công nghiệp trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác. Cụ thể, theo nhiều người dân sinh sống tại khu vực kênh Tham Lương (Thành phố Hồ Chí Minh) thì nguồn nước ở đây từ khi xuất hiện khu công nghiệp Tân Bình đã trở lên ô nhiễm trầm trọng, không sử dụng được vào bất cứ mục đích nào. Đáng báo động hơn nữa, hiện nay kênh Tham Lương còn được liệt vào dòng kênh “chết” do không có thứ gì, kể cả cây cỏ có thể tồn tại được ở dòng kênh mà trước kia từng rất trong xanh này. Nguyên nhân của tình trạng này không quá khó để biết được chính là do khu công nghiệp Tân Bình với hàng loạt nhà máy, xí nghiệp cùng hàng ngàn công nhân sinh hoạt hàng ngày thải ra. Ngoài việc làm chết một dòng kênh, ô nhiễm nguồn nước ở đây còn ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người dân do nó bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng tới hệ thống nước ngầm, nước mặt, nhất là vào mùa mưa như hiện nay khiến người dân tỏ ra vô cùng búc xúc.
Lấy một ví dụ cụ thể, chỉ tính riêng tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các khu công nghiệp đã chiếm đến 49% lượng nước thải của các khu công nghiệp trong toàn quốc. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều khu công nghiệp đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp. Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý.
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường về mặt không khí ở các khu công nghiệp lại thường chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp cũ, do các khu công nghiệp này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường. Ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp chủ yếu là bụi, một số khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn. Về tình trạng này, nhiều người dân sinh sống ở những khu công nghiệp thường phản ánh họ thường ngửi thấy những mùi đặc trưng của những sản phẩm ở khu công nghiệp phát tán ra ngoài. Như khu công nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thì ngửi thấy mùi cá sơ chế chẳng hạn. Tuy nhiên, rất nhiều loại khí khác có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người mà thông thường lại không ngửi thấy bằng khứu giác đã được các chuyên gia môi trường cảnh báo đang diễn ra ở các khu công nghiệp hiện nay.
Bên cạnh đó, theo một số thống kê cho thấy, mỗi ngày các khu công nghiệp nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn, tương đương khoảng ba triệu tấn một năm. Một con số khổng lồ nếu tính trên tổng số diện tích và con người sinh sống quanh các khu công nghiệp. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là, lượng chất thải rắn đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp. Nghĩa là, càng về sau, những khu đất trống dùng để xử lý, chôn lấp chất thải khan hiếm đi, trong khi số lượng lại tăng lên mới là điều khiến người ta lo ngại. Cụ thể, nếu như tính trung bình cả nước, năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh chất thải rắn khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204 tấn/năm (tăng 50%). Riêng những năm gần đây, con số này chắc chắn đã tăng lên gấp nhiều lần và đó chính là mối nguy hại lớn cho môi trường sống xung quanh.
Ngoài ra, có một sự lo ngại là khác nữa là trong khi các ngành nghề sản xuất ở các khu công nghiệp đang có những sự dịch chuyển nhất định để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống thì số lượng chất thải mà các khu công nghiệp này thải ra cũng thay đổi theo. Rất nhiều chất thải là hóa chất, chất độc hại đã được tạo ra khi ngành nghề sản xuất thay đổi trong khi quy trình xử lý chất thải vẫn giữ nguyên như cũ. Điều này đồng nghĩa với việc những hóa chất mới này hầu như không được xử lý hoặc sau khi xử lý, chúng vẫn giữ nguyên yếu tố độc hại và việc thải ra môi trường là vô cùng nguy hiểm. Có lẽ, đây chính là nguyên nhân mà khu công nghiệp nào khi kiểm tra cũng có những dây truyền xử lý chất thải nhưng tại các khu vực xung quanh khu công nghiệp, bằng mắt thường cũng có thể thấy tình trạng ô nhiễm đã tăng đột biến, làm biến đổi hoàn toàn môi trường ở khu vực đó. Thiết nghĩ, tình trạng những khu xử lý chất thải bị “chết” hay không theo kịp cơ cấu hàng sản xuất cần phải được chấm dứt ngay.
Từ những phản ánh trên, không khó để thấy được những hệ lụy, hậu quả nghiêm trọng mà người dân sinh sống ở khu vực có khu công nghiệp phải gánh chịu. Đó chính là nguy cơ về việc gia tăng những loại bệnh mãn tính khi sinh sống gần các khu công nghiệp cũng được nhiều người dân phản ánh. Những loại bệnh tật này, thật nguy hiểm là nó lại không diễn ra trong thời khắc mà tích tụ theo ngày tháng, làm người dân cảm thấy vô cùng bất an. Hơn nữa, nhiều khu công nghiệp lớn lại không nằm biệt lập mà nằm giữa…khu dân cư khiến dịch bệnh càng có nguy cơ bùng phát, tác động nghiêm trọng hơn, lên trên một số lượng rất lớn cá thể con người.
Các giải pháp cấp bách
Ðể từng bước khắc phục tình trạng nói trên, theo chúng tôi thời gian tới các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra pháp luật về công tác bảo vệ môi trường, xử lý các nguồn chất thải tại các khu công nghiệp cũng như cụm khu công nghiệp. Hơn nữa, việc xử lý nghiêm các Doanh nghiệp vi phạm, cũng như kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc cấp hoạt động theo quy định của pháp luật. Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động đánh giá môi trường chiến lược, tác động môi trường đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển, nhất là ở khâu thẩm định, kiểm tra sau thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm các dự án trước khi đi vào hoạt động được xác nhận hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường, đồng thời chỉ cho phép xây dựng các nhà máy, dự án trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp sau khi đã hoàn thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình bảo vệ môi trường là những việc làm hết sức cần thiết.
Ngoài ra, việc quy hoạch, dịch chuyển các khu công nghiệp, vùng công nghiệp tới những khu đất biệt lập, nằm xa khu dân cư, vùng ngoại thành xa xôi chính là yếu tố cần thiết để bảo vệ và có biện pháp cách ly, xử lý an toàn môi trường khi cần thiết. Biện pháp này còn khiến cho môi trường quanh khu công nghiệp, môi trường sống của người dân trong tương lai được an toàn, bền vững hơn. Ngoài ra, việc thay đổi liên tục những quy trình xử lý chất thải môi trường ở những khu công nghiệp cũng là việc làm hết sức cần thiết. Tất cả phải ưu tiên những dây truyền sản xuất thân thiện, xanh sạch với môi trường sống để đảm bảo rằng môi trường tại các khu công nghiệp không làm ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sống xung quanh của các khu dân cư khác.
TD

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

ĐỪNG BỨC TỬ ĐẠI DƯƠNG

Rác thải chất dẻo trên đại dương đang gây tổn thất cho nền kinh tế thế giới ít nhất 13 tỷ USD mỗi năm, đe dọa đời sống sinh vật biển, ngành du lịch và nghề cá.

                  
Đây là cảnh báo của Liên hợp quốc tại hội thảo môi trường toàn cầu do Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đang tổ chức tại Kenya.

Người đứng đầu UNEP Achim Steiner cho biết chất dẻo không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, tuy nhiên hoạt động sử dụng vật liệu này của con người đang gây ra những tác động nghiêm trọng lên môi trường sinh thái.

Báo cáo của UNEP cho biết rác thải chất dẻo (gồm chai nhựa, túi nilon, hộp đựng đồ ăn...) là nguyên nhân gây tử vong cho nhiều loài sinh vật biển khi bị nuốt phải như rùa, cá heo và cá voi hoặc tác động tiêu cực tới môi trường sống như các rặng san hô.

Ngoài ra, ô nhiễm hóa chất do rác thải chất dẻo gây ra còn gây tổn thất cho các ngành ngư nghiệp và du lịch của nhiều quốc gia.

Theo UNEP, đã có nhiều báo cáo về việc sinh vật biển nuốt vào bụng các chất dẻo độc hại thường tồn tại dưới dạng các mảnh vỡ nhỏ có đường kính chưa tới 5mm. Nhờ các dòng hải lưu, các mảnh vỡ này có thể di chuyển trên khắp đại dương, trở thành mồi cho các loài chim biển, cá, giun và động vật phù du, sau đó chuyển hóa thành hóa chất độc hại trong thức ăn của con người.

Một trong những mối nguy hiểm nổi lên mới đây là các "hạt chất dẻo siêu nhỏ" chứa trong kem đánh răng, chất gel và các sản phẩm làm sạch da mặt. Các hạt này không thể bị loại bỏ qua quá trình xử lý nước thải và do đó được đổ thẳng ra sông, hồ và đại dương.

Báo cáo trên đã chỉ ra thực trạng cấp thiết cho các công ty xem xét lại hoạt động sử dụng chất dẻo trong sản xuất và kinh doanh, tương tự như với khí thải carbon, nước và khai thác rừng. Các chuyên gia cũng nhận định việc tái chế có thể giúp doanh nghi
ệp tiết kiệm được rất nhiều chi phí.
                                                                                                                                                        MXD